truyện thương nhớ đồng quê

Nắng nhớ nắng, mưa nhớ mưa, đến nhúm cỏ ven đường cũng làm lòng bổi hổi bồi hồi. Nhớ ngày lội bùn đánh trâu ra đồng bừa, hai dên đường cỏ mọc, đẫm ướt sương đêm, thi thoảng con trâu dí mũi vào chòm cỏ ăn hổn vài miếng, ông đánh nó mà bây giờ thấy tội. Nó thèm, nó ăn, cũng như người ta thèm , ta nhớ vây!. Ở đây chẳng thiếu thứ gì . Ăn gì cũng có. Tôi thương nhớ nhiều khi nắng chiều êm dịu Trên đường về thôn Vỹ vắng đìu hiu Thông reo Núi Ngự man mác sầu Thiên Mụ Ai về gửi thương nhớ chốn ngàn thơ. KHÔNG GIAN RỘNG RÃI KHOÁNG ĐÃNG: Đồng quê không tù túng, gò bó, chật hẹp, bụi bặm, ồn ào như thành phố. Năm phát hành2018. Bộ phim "Dòng Sông Thương Nhớ" mở ra một thế giới tuổi thơ ở nông thôn miền Tây tràn ngập cảm xúc với những đứa trẻ lớn khôn từng ngày, được bồi dưỡng tâm hồn bằng những bài học chập chững đầu đời về giá trị sống, về tình bạn cao Evay Vay Tiền. Trang 1 Trang 2 Trang 3 Trang 4Kế tiếp -Quảng Cáo-Nguyễn Huy Thiệp 29/4/1950 – 20/3/2021 sinh tại huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Thuở nhỏ ông cùng gia đình lưu lạc khắp nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, từ Thái Nguyên qua Phú Thọ, Vĩnh Phúc. Năm 1980, ông chuyển về làm việc tại Bộ Giáo dục và Đào tạo, sau đó, làm việc tại Công ty Kỹ thuật trắc địa bản đồ, Cục Bản đồ cho đến khi về hưu. Nguyễn Huy Thiệp chịu ảnh hưởng giáo dục chủ yếu của ông ngoại, vốn là người am hiểu Nho học và mẹ, vốn là người sùng Đạo Phật. “Tôi sinh ở nông thôn, mẹ tôi là nông dân. Thời thơ ấu của tôi cũng khổ, không chỉ bản thân tôi mà cả xã hội như vậy. Tôi đọc sách, ước ao của tôi là mình làm việc gì đấy mà lớn lên mình dựng được ngôi nhà cho khỏi dột, để mẹ ở cho khỏi khổ. Sau này nhờ viết văn mà tôi làm được ngôi nhà. Có thể nói tôi thành nhà văn từ mơ ước làm nhà cho mẹ cũng được.” Ông xuất hiện trên văn đàn Việt Nam với một số truyện ngắn ấn tượng đăng trên Báo Văn nghệ năm 1986. Tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp in dấu ấn khá đậm nét về nông thôn và những người lao động. Sở trường của ông là mảng lịch sử, hơi hướng huyền thoại, xã hội Việt Nam đương đại, và xã hội làng quê. Ông là nhà văn hiện đại có tên tuổi trong địa hạt truyện ngắn và tiểu thuyết, với cái nhìn thẳng vào những vấn đề gai góc của cuộc sống và bản năng trần tục của con người. Các truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Huy Thiệp Tướng về hưu, Tâm Hồn Mẹ, Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, Nguyễn Thị Lộ, Con gái thủy thần, Tiểu Long Nữ, Chảy Đi Sông Ơi, Trương Chi, Những Bài Học Nông Thôn, Thương Nhớ Đồng Quê, Tội Ác và Trừng Phạt, Tuổi 20 yêu dấu,… Thương nhớ đồng quê Tác giả Nguyễn Huy Thiệp MỞ ĐẦU Tôi là Nhâm. Tôi sinh ở làng quê, lớn lên ở làng quê. i trên đường Năm nhìn về làng tôi chỉ thấy một vệt xanh nhô trên đồng vàng. Xa mờ là vòng cung ông Sơn, trông thì gần nhưng từ làng tôi lên đấy phải năm mươi cây số. Làng tôi gần biển, mùa hè vẫn có gió biển thổi về. Tháng Năm âm lịch là mùa gặt. Mẹ tôi, chị Ngữ, chú Phụng với tôi ra đồng từ mờ sáng. Ba người gặt, còn tôi gánh lúa. Tôi gánh lúa về nhà, đi men theo đường mương. Nắng gắt lắm, ngoài trời có lẽ phải bốn mươi độ. Bùn non bên vệ mương nứt nẻ, bong cong lên như bánh đa. Tôi mơ mộng lắm, hay nghĩ. Bố tôi là thiếu tá, cán bộ trung cấp kỹ thuật hải quân, vẫn đi ra các đảo lấp ra-đa với máy thông tin, mỗi năm về phép một lần. Bố tôi thuộc hết tên các đảo. Mẹ tôi chẳng bao giờ đi xa khỏi làng. Mẹ tôi bảo “Ở đâu chẳng thế, chỗ nào cũng toàn là người”. Chú Phụng thì khác, chú Phụng đã đi nhiều nơi, chú Phụng bảo tôi khi chỉ có hai chú cháu với nhau “Trong thiên hạ không phải chỉ có người đâu, có các Thánh nhân, có yêu quái”. Nhà chú Phụng toàn phụ nữ mẹ vợ, vợ, bốn đứa con gái. Chú Phụng đùa”Chú đẹp giai nhất nhà”. Chị Ngữ là chị dâu tôi, lấy anh Kỷ. Anh Kỷ đang làm công nhân trên mỏ thiếc Tĩnh Túc Cao Bằng. Chị Ngữ là con ông giáo Quỳ dạy cấp một ở làng. Hồi trước tôi học ông giáo Quỳ. Ông giáo Quỳ có nhiều sách. Mọi người vẫn bảo ông là “đồ gàn”, lại bảo ông là “lão dê già”, “Quỳ dê”. Ông giáo Quỳ có hai vợ, vợ cả sinh ra chị Ngữ, chị dâu tôi. Vợ hai là thím Nhung, vừa là thợ may, vừa bán quán, sinh ra thằng Văn bạn tôi. Thím Nhung trước kia là gái giang hồ ở Hải Phòng. Ông giáo Quỳ lấy về làm vợ nên uy tín chẳng còn gì. Tôi gánh được chục gánh lúa thì đầy ùn cả sân. Tôi gọi cái Minh dọn rơm để có chỗ xếp lúa. Cái Minh em tôi người nhỏ quắt, đen đúa nhưng mắt sáng, lại dai sức. Cái Minh chui ở bếp ra, mặt đỏ gay, mồ hôi ướt đầm hai bên vạt áo. Tôi ra bể nước mưa múc đầy cả một gáo dừa uống ừng ực. Nước mát lịm. Mẹ tôi vẫn hay chan cơm nước mưa ăn với cà muối. Mẹ tôi không ăn được thịt mỡ. Sân nóng hừng hực, hơi nóng mờ mờ bốc lên ngây ngất. Mùi lúa ngột ngạt. ường làng đầy rơm rạ phơi ngổn ngang. Tôi đi qua cổng nhà dì Lưu thấy có đám người xúm đông. Cái Mị con dì Lưu gọi tôi”Anh Nhâm!”. Tôi vào thấy ông Ba Vện bưu điện xã đang nhét thư báo vào túi bạt sau yên xe đạp. Cái Mị bảo tôi”Có điện của chị Quyên ngoài Hà Nội”. Dì Lưu là em mẹ tôi, bị liệt mấy năm nay. Chú Sang chồng dì Lưu đang công tác bên Lào, chú là kỹ sư cầu đường. Anh trai chú Sang ngoài Hà Nội có con gái là Quyên đi học đại học bên Mỹ. Hồi bé, Quyên đã có lần về thăm quê. Tôi cầm bức điện đọc”Cô Lưu cho người ra ga đón cháu Quyên 14 giờ ngày… “. Tôi hỏi cái Mị”Chiều nay à?”. Cái Mị gật đầu. Dì Lưu nằm nghiêng tựa lưng vào tường. Lúc nào dì Lưu cũng nằm như thế đã sáu năm nay. Dì Lưu bảo tôi”Nhâm giúp dì ra đón em Quyên nhé”. Tôi bảo”Nhà cháu đang gặt”. Dì Lưu bảo “ể đấy đã. Gặt ở khoảnh nào?”. Tôi bảo”Gặt ở khoảnh gieo bào thai hồng”. Cái Mị cầm bức điện ra đồng để nói với mẹ tôi. Cái Mị cùng tuổi cái Minh em tôi nhưng cái Mị trắng hơn, đậm người hơn. Nó hay nói, hay làm nũng. Cái Mị bảo”Anh Nhâm ơi, hôm nào anh làm cho em cái lồng lấy ổi”. Lồng lấy ổi làm bằng cây nứa tươi, đầu lòng hơi giống hom giỏ, có hàm răng mở ra. Tôi bảo”Em kiếm nứa đi”. Cái Mị bảo”Em có rồi. Mai anh làm nhé”. Tôi nhẩm việc, thấy kín hết chỗ từ sớm đến khuya. Cái Mị bảo”Mai đấy”. Tôi bảo”Ừ”. Nhà cái Mị có ba cây ổi, nó trèo ổi gãy cành có lần suýt ngã. Chú Phụng đọc tờ điện báo nói “Sao lại bưu cục Thế là nghĩa lý gì?”. Mẹ tôi bảo”Dì Lưu đã nhờ thì Nhâm đi đi. Cái áo mới mẹ để ở hòm, lấy mà mặc”. Tôi bảo cái Mị”Em về đi. Anh phải gặt đến trưa, ăn cơm rồi đi luôn”. Cái Mị đi về một mình. Bóng nó cứ ngụp dần trên cánh đồng xa tít tắp đang gặt nham nhở. Tôi cầm liềm. Quơ một vòng sát chân rạ. Giật mạnh. Bước sang trái. Quơ liềm. Giật mạnh. Lại bước sang trái. Lại quơ liềm. Lại giật mạnh. Cứ thế. Cứ thế mãi. ất trên mặt ruộng ẩm ướt. Những con châu chấu nhỏ xíu nhảy lách tách. ến giữa trưa thì đồng vắng lắm. Nhìn ra chỉ có bốn người nhà tôi giữa đồng. Mẹ tôi ngồi bên vệ cỏ nhổ gai ở chân. Chị Ngữ đội nón, khăn trùm mặt, quấn xà cạp đến tận mắt cá chân, ngơ ngẩn nhìn về dãy núi xa phía vòng cung ông Sơn. Chú Phụng xếp lúa để gánh về. Chú Phụng hỏi”Mày về luôn chứ?”. Tôi khô khốc miệng, không nói được, chỉ gật đầu. Hai chú cháu tôi mỗi người một gánh đi về. Chú Phụng đi trước, tôi đi sau. Gánh lúa rất nặng. Tôi thấy chân mình run lắm nhưng cố bước. 100 bước. 200 bước. 1000 bước. 2000 bước. Cứ thế. Cứ thế mãi. Rồi cũng đến nhà. Cái Minh dọn cơm cho tôi ăn rồi vội vàng mang cơm ra đồng cho mẹ tôi và chị Ngữ. Tôi ăn cơm. Cơm có rau khoai lang luộc, cà muối, cá tép kho khế. Tôi ăn một lèo sáu bát cơm. Bây giờ đang mệt, nếu không mệt tôi đánh thông đấu gạo. Tôi ra giếng tắm, thay quần áo. Tôi lấy chiếc áo mới ra mặc, nhưng thấy ngượng nên thôi. Tôi mặc chiếc áo bộ đội bạc màu của bố tôi. Tôi sang nhà dì Lưu lấy xe đạp. Dì Lưu bảo”Cháu cầm lấy ít tiền”. Dì Lưu đưa tôi năm nghìn nhưng tôi chỉ lấy hai nghìn. Hai nghìn là hơn cân thóc. Dì Lưu hỏi “Nhâm còn nhớ mặt em Quyên không?”. Tôi gật đầu, thực ra tôi không nhớ lắm, nhưng gặp tôi cũng nhận ra. Tôi đạp xe ra ga. Từ làng tôi đến ga tám chín cây số. Lâu lắm tôi mới đi xa thế này. Con đường đất men theo rìa làng, qua đình làng, qua đầm sen rồi theo bờ mương ngược về huyện lỵ. Tôi nghĩ. Những ý nghĩ của tôi mông lung. Tôi nghĩ Tôi nghĩ về sự đơn giản của ngôn từ Sự bất lực của hình thức biểu đạt Mà nỗi nhọc nhằn đầy mặt đất Sự vô nghĩa trắng trợn đầy mặt đất Những số phận hiu hắt đầy mặt đất Bao tháng ngày trôi đi Bao kiếp người trôi đi Sự khéo léo của ngôn từ nào kể lại được Ai nhặt cho tôi buổi sáng mai này Nhặt được ánh hoang vắng trong mắt em gái tôi Nhặt được sợi tóc bạc trên đầu mẹ tôi Nhặt được niềm hy vọng hão huyền trong lòng chị dâu tôi Và nhặt được mùi vị nghèo nàn trên cánh đồng quê Tôi rốt ráo bắn tỉa từng ý nghĩ Tìm cách săn đuổi cho nó vào chuồng Và tôi hú gọi trên cánh đồng lòng Tru lên như con sói hoang Tôi gắng gặt một lượm sống Bó buộc lỏng lẻo bởi dải băng ngôn từ Tôi hú gọi trên cánh đồng người Tôi nhặt những ánh mắt đời Hòng dõi theo ánh mắt tôi Dõi vào cõi ý thức Cõi ý thức mênh mông xa vời Dầu tôi biết vô nghĩa, vô nghĩa, vô nghĩa mà thôi. Ga chiều huyện lỵ vắng vẻ. Mấy con gà rã cánh đi trên sân ga. Có khoảng chục người chờ ở cổng. Vẳng lại tiếng nhạc ở băng cát-xét nhà nào đang mở. Tiếng hát của ca sĩ Nhã Phương chậm rãi”Người đi qua đời tôi, có nhớ gì không người? Em đi qua đời tôi, có nhớ gì không em?”. Hàng phở, hàng giải khát. La liệt là những sạp hành, quần áo, giầy dép, đường sữa, thuốc lá. Ô-tô chạy xuôi chạy ngược. Trời rất trong. Nắng bừng bừng. Cả phố huyện say nắng. Tiếng còi tàu hú từ xa dè dặt, vui mừng. Có ai nói to”Tàu về”. Cả phố huyện vẫn mơ màng. Lại có ai gắt lên”Tàu về”. Tiếng còi tàu hăm dọa, chói óc. Mọi người bỗng nhiên rối rít, cuống cuồng. Những bà, những chị, những đứa trẻ bán hàng rong chạy ngược chạy xuôi. Tiếng rao hàng chen nhau”Nước đây ! Ai bánh nào ! Ai nước nào ! Ai bánh nào ! Ai nước nào !”. Tôi dắt xe đứng một chỗ nhìn. Người trên tàu ra đứng ngồi ngổn ngang ở ngay bậc cửa. ây là ga lẻ. ồng quê tôi vô danh. Nơi tôi đứng đây vô danh. Khoảng hơn chục người lần lượt qua cổng soát vé. Tôi nhận ra mấy thầy cô giáo cấp ba trường huyện. Bộ đội. Mấy người buôn chuyến. Mấy người thợ sắt. Một ông to béo, đeo kính râm, mắt kính vẫn còn dán tem. Một thanh niên cao, gầy, tóc rễ tre, đôi mắt tư lự. Tôi biết người này. ấy là nhà thơ Văn Ngọc. Sau anh Ngọc là một cặp vợ chồng già. Quyên. Quyên xõa tóc, mặt áo pun, quần gin, đeo kính, khoác túi. Quyên trông khác hẳn mọi người bởi toàn bộ thần thái toát ra. Quyên qua cửa soát vé, nhìn quanh. Nhận ra tôi ngay. Quyên bảo “Tôi là Quyên. Có phải cô Lưu dặn anh đón tôi không?”. Tôi bảo”Vâng”. Quyên cười”Cám ơn anh. Anh là thế nào với cô Lưu? Anh tên gì?”. Tôi bảo”Tôi là Nhâm, tôi là con ông Hùng”. Quyên hỏi “Thế anh có họ hàng gì với tôi không?”. Tôi bảo”Không”. Quyên gật đầu”Tốt. Cô Lưu thuê anh à?”. Tôi nhìn cái bóng tôi sẫm trên nền xi măng. Tôi, thân phận tôi, ở đâu người ta cũng nhận là kẻ làm thuê, làm mướn. Chiều xuống chậm. Những bóng râm chạy đuổi nhau lướt trên mặt đất. Chiều đánh rỗng nội tâm của ai hy vọng lý giải điều gì có nghĩa. Quyên hỏi”Nhà anh cấy bao nhiêu sào? Mỗi sào bao nhiêu thóc? ược bao nhiêu tiền?”. Tôi bảo”Mỗi sào được hơn ba nồi, khoảng gần tạ, mỗi cân thóc một nghìn tư”. Quyên nhẩm”Hai mươi triệu tấn thóc cho sáu mươi triệu người”. Tôi bảo “Có ai chỉ nghĩ đến ăn”. Qua đầm sen gặp sư Thiều. Sư Thiều chào. Tôi chào lại. Sư Thiều bảo”Tôi vẫn nhớ dành cho cậu cây hồng tú cầu”. Tôi bảo”ể lúc nào qua chùa con xin”. Tôi thú chơi hoa. Ông giáo Quỳ bảo”ấy là thú của kẻ biết đời”. Sư Thiều bảo”Có lấy ít sen về cắm lọ không?”. ầm sen của Chùa mùa này nhiều hoa. Tôi dựng xe đẩy thuyền cho sư Thiều. Chiếc thuyền thúng chỉ vừa người ngồi. Chèo khua nước. Quyên bảo”Tôi muốn đi thuyền”. Tôi gọi sư Thiều. Sư Thiều ghé thuyền vào. Sư Thiều ôm bó hoa sen đặt lên bờ. Quyên trèo lên thuyền. Tôi đẩy thuyền ra. Sư Thiều bảo”Chiều người lụy ta”. Tôi cười. Tôi và sư Thiều ngồi ở trên bờ. Chiều vẫn xuống chậm. Nắng hoe vàng. Trong lòng tôi rỗng hoác, rỗng lắm, một khoảng rỗng không. Quyên lên bờ. Sư Thiều mời ăn ngó sen. Sư Thiều hỏi “Ngon không?”. Quyên bảo”Ngon”. Nấn ná một lát rồi về. Sư Thiều chào. Quyên chào lại. Quyên ôm bó hoa sen. Sư Thiều tần ngần đứng trông theo. Tôi đi trước. Quyên đi sau. Quyên hỏi tôi về sư Thiều. Trang 1 Trang 2 Trang 3 Trang 4Kế tiếp Thương nhớ đồng quê – truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp được viết vào năm 1992 và chuyển thể thành phim vài năm sau đó. Đúng như tên tác phẩm, bối cảnh của truyện là những hình ảnh bình dị, mộc mạc về làng quê trong suy nghĩ, trong tự sự của chàng trai 17 tuổi – Nhâm. "Mãi đến tận mờ sáng tôi mới lần về đến rìa làng. Không khí rất sạch. Làng quê quen thuộc, yên tĩnh. Sau mưa, quang cảnh hiện lên vừa đỏm dáng, vừa tinh khiết" "Nhìn phía trước chỉ thấy một vệt xanh nhô trên đồng vàng, xa mờ là vòng cung Đông Sơn. Ở đấy tôi có rất nhiều thương nhớ." Không dừng lại ở việc "tả cảnh", tác giả còn đi sâu hơn vào đời sống của từng nhân vật, cuộc sống trên đồng quê với những con người đa hình, đa vẻ đã tô điểm thêm cho bức họa làng quê thêm đa sắc, đa màu, như chuyện của sư Thiều, chuyện của ông giáo Quỳ, chuyện của chú Phụng... chuyện của những lao động nghèo, bình dị tuy tư tưởng và lập trường hoàn toàn khác nhau. Chuyện tuy có kết thúc buồn, mang cho độc giả một cảm giác miên man, nhưng chứa đựng nhiều ý nghĩa về cảnh – người – tâm tư của những con người nặng tình với làng quê. *** Nguyễn Huy Thiệp sinh ngày 29 tháng 4 năm 1950, quê quán Thanh Trì, Hà Nội. Thuở nhỏ ông cùng gia đình lưu lạc khắp nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, từ Thái Nguyên qua Phú Thọ, Vĩnh Yên ... Nông thôn và những người lao động vì thế để lại nhiều dấu ấn khá đậm nét trong nhiều sáng tác của ông. ``Mẹ tôi là nông dân, còn tôi sinh ra ở nông thôn Nguyễn Huy Thiệp chịu ảnh hưởng giáo dục chủ yếu của ông ngoại, vốn là người am hiểu nho học và mẹ, vốn là người sùng đạo Phật. Năm 1960, ông cùng gia đình về quê quán và định cư ở xóm Cò, làng Khương Hạ Nguyễn Huy Thiệp là một bông hoa nở muộn trên văn đàn. Vài truyện ngắn của ông xuất hiện lần đầu tiên trên báo Văn Nghệ của Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1986. Chỉ một vài năm sau đó, cả làng văn học trong lẫn ngoài nước xôn xao những cuộc tranh luận về các tác phẩm của ông. ``Có người lên án anh gay gắt, thậm chí coi văn chương của anh có những khuynh hướng thấp hèn. Người khác lại hết lời ca ngợi anh và cho rằnh anh có trách nhiệm cao với cuộc sống hiện nay Lời cuối sách của NXB Đa Nguyên Sở trường của Nguyễn Huy Thiệp là truyện ngắn, có thể tạm được phân loại như sau Về lịch sử và văn học Kiếm Sắc, Vàng Lửa, Phẩm Tiết, Nguyễn Thị Lộ, Mưa Nhã Nam, Chút Thoáng Xuân Hương ... truyện ngắn mang hơi hướm huyền thoại hoặc "cổ tích" Những Ngọn Gió Hua Tát, Con Gái Thủy Thần, Giọt Máu, Muối Của Rừng, Chảy Đi Sông Ơi, Trương Chi ... về xã hội VN đương đại Không Có Vua, Tướng Về Hưu, Cún, Sang Sông, Tội Ác và Trừng Phạt ...; về đồng quê và những người dân lao động Thương Nhớ Đồng Quê, Những Bài Học Nông Thôn, Những Người Thợ Xẻ ... Ngoài ra, Nguyễn Huy Thiệp còn viết nhiều kịch, tiêu biểu là Xuân Hồng, Còn Lại Tình Yêu, Gia Đình hay Quỷ Ở Với Người, dựa theo truyện ngắn Không Có Vua, Nhà Tiên Tri, Hoa Sen Nở Ngày 29 Tháng 4 ...; và nhiều thơ chưa xuất bản tập thơ nào, song thơ xuất hiện khá nhiều trong các truyện ngắn của ông. Năm 1994, Nguyễn Huy Thiệp gác bút và xoay ra mở nhà hàng ở Hà Nội tên là Hoa Ban, rất ăn khách. *** Tôi đạp phải ổ dế. Lấy cuốc bới ra, hàng nghìn con dế đất béo núc ních bò nhung nhúc. Mẹ tôi, chị Ngữ bỏ dỡ lạc bắt dế. Mẹ tôi xuýt xoa "Ôi chao, phúc đức đầy nhà rồi các con ơi! " Chị Ngữ mừng "Cả nhà tôi rồi giàu nhất làng!" Khoảng gần trưa, thấy ở đường Năm có đám đông kêu la khóc lóc đang chạy. Mẹ tôi tự dưng ngã chúi xuống ruộng, thất thanh gọi tôi "Nhâm ơi Nhâm". Tôi và chị Ngữ sợ hãi, tưởng mẹ tôi trúng gió. Mẹ tôi mặt tái đi, tay giơ tới trước mặt như sờ nắn ai. Mẹ tôi gọi "Nhâm ơi Nhâm. Sao em Minh con máu me đầy người thế này?" Chị Ngữ lay mẹ tôi "U ơi u, sao u nói gở thế?" Có mấy người từ đám đông trên đường Năm bỗng chạy tách ra, băng qua đồng. Có ai gào to thảm thiết "Bà Hùng ơi Hùng là tên bố tôi, mau ra mà nhận xác con đây này". Anh Ngọc tóc dựng ngược, cái anh nhà thơ mà tôi đã gặp ở ga chiều qua, chạy ở phía trước. Anh nói không ra hơi, tôi nghe loáng thoáng, chỉ biết rằng cái Minh em tôi và cái Mị con dì Lưu đèo nhau đi học về, qua ngã ba thì bị chiếc ô tô chở cột điện cán chết. Mẹ tôi lăn lộn giữa ruộng lạc đang dỡ nham nhở. Nhùng con dế đất bay quanh, bay một quãng lại bò, lại rúc đầu xuống bùn. Chị Ngừ đứng lặng, mắt ngơ ngẩn thất thần nhìn về dãy núi xa phía vòng cung Đông Sơn, tựa như không hiểu sao bỗng dưng trời cao phũ phàng đến thế? Anh Ngọc, tôi và Quyên chạy ra đường. Nước mắt tôi giàn giụa. Cái Minh mới 13 tuổi. Cài Mị mới 13 tuổi. Tôi còn chưa kịp làm cho cái Mị cái lồng lấy ổi. Còn cái Minh em tôi, con bé rất thảo, nó suốt đời mặc quần áo vá, nó bao giờ cũng dành cho tôi những quà ngon nhất. Chiếc xe tải chở ba cây cột điện đổ nghiêng ở bên vệ đường. Người ra dùng kích để nâng bánh xe, tìm cách kéo xác cái Minh và cái Mị ra. Cái Minh nằm nghiêng, cái Mị nằm sấp, đè lên nhau. Chiếc xe đạp rúm ró bên cạnh. ... Mời các bạn đón đọc Thương Nhớ Đồng Quê của tác giả Nguyễn Huy Thiệp. Thương Nhớ Đồng Quê GIỚI THIỆU CHUNG Tác giả Nguyễn Huy Thiệp Thể loại Podcast Nguồn Sưa tầm Trạng thái Hoàn thành NỘI DUNG PODCAST “Cánh đồng rộng quá… Anh có biết cánh đồng bắt đầu từ đâu không?” “Cánh đồng bắt đầu từ nơi rất sâu trong lòng tôi Trong máu thịt tôi đã có cánh đồng …Tôi làm sao quên được nơi mẹ sinh ra tôi Mẹ đã buộc cuống rốn cho tôi bằng sợi chỉ Tắm gội cho tôi bằng nước ao đầm trước…” THƯƠNG NHỚ ĐỒNG QUÊ – truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp được viết vào năm 1992 và chuyển thể thành phim vài năm sau đó. Đúng như tên tác phẩm, bối cảnh của truyện là những hình ảnh bình dị, mộc mạc về làng quê trong suy nghĩ, trong tự sự của chàng trai 17 tuổi – Nhâm. Không dừng lại ở việc tả cảnh, tác giả còn đi sâu hơn vào đời sống của từng nhân vật, cuộc sống trên đồng quê với những con người đa hình, đa vẻ đã tô điểm thêm cho bức họa làng quê thêm đa sắc, đa màu, như chuyện của sư Thiều, chuyện của ông giáo Quỳ, chuyện của chú Phụng… chuyện của những lao động nghèo, bình dị tuy tư tưởng và lập trường hoàn toàn khác nhau. cập nhật audio truyện mới và hot nhất hiện nay. Các bạn muốn nghe truyện gì tiếp theo 🤔? Hãy đánh giá 5* và để lại tên truyện trong comment cho chúng tớ biết nhé! ^^ Mời các bạn nghe audio truyện full được sưu tầm bởi ️️ Truyện đã được up hoàn chỉnh. Chúc các bạn nghe truyện vui vẻ. 💛🧡 Cảm ơn các bạn đã lắng nghe và ủng hộ chúng tôi 🧡💛 📧 Email góp ý info 💌 Facebook

truyện thương nhớ đồng quê