truyện ngắn việt nam sau 1975

Truyện cực ngắn. Ông rời Việt Nam vào ngày Sài Gòn đổi chủ. Đã 43 năm qua, ông chưa lần nào trở lại quê cũ. Ông nghĩ chính quyền mới cũng chẳng hoan nghênh việc một kẻ ngã ngựa như ông về thăm lại nơi chôn nhau cắt rốn. Bây giờ tuổi đã cao nên tự nhiên ông thấy Bài giảng Khái quát Văn học Việt Nam sau 1975. Bài giảng Khái quát Văn học Việt Nam sau 1975 giới thiệu tới các bạn những nội dung về bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa Việt Nam sau 1975; quá trình vận động của nền Văn học Việt Nam sau 1975; những đặc điểm cơ bản của Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, trong đó, phụ nữ Việt Nam giữ một vai trò trọng yếu. Giai đoạn 1954 -1975: Trong suốt 21 năm chiến đấu chống Mỹ đầy gian khổ, phụ nữ cùng nhân dân cả nước đã thể hiện ý chí quyết tâm Evay Vay Tiền. Giới nghiên cứu cũng như giới sáng tác hầu như đều thống nhất sau 1975, truyện ngắn là thể loại gặt hái nhiều thành công, “được mùa thể loại”. Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng tiếp theo “những vụ được mùa của truyện ngắn, đây có thể coi là giai đoạn có nhiều truyện ngắn hay trong văn học Việt Nam”[1, 174]. Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng trong công trình “Truyện ngắn, những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại” cũng khẳng định sự thành công của truyện ngắn sau 1975 “...truyện ngắn phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng”, “truyện ngắn có bước đột khởi nhờ vào ngọn gió lành của công cuộc đổi mới” [5, 201- 203]. Theo chúng tôi, sự vận động và thành tựu của truyện ngắn Việt Nam sau 1975 bộc lộ khá phong phú ở nhiều mặt. Ở bài viết này, chúng tôi đề cập đến một số phương diện của hình thức thể loại. Sự vận động ở dạng thức cấu trúc cốt truyện Nhìn ở dạng thức cấu trúc cốt truyện, có lẽ đây là giai đoạn mà truyện ngắn Việt Nam có dạng thức thể loại phong phú và đa dạng nhất so với từ trước đến giờ. Có thể nói, luồng gió đổi mới đã tạo ra không khí sôi nổi chưa từng có trong đời sống văn học với sự phát triển đột phá của các cá tính, phong cách. Ở loại hình văn xuôi nghệ thuật, truyện ngắn, có lẽ là sân chơi rộng rãi nhất để các cây bút thể nghiệm và trổ ra những tìm tòi, phát kiến mới. Có khá nhiều những “tuyên ngôn mới” về văn chương được công bố, đi liền với tuyên ngôn là những sáng tác mang tính kiểm chứng. Qua quan sát tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy một số dạng thức cốt truyện sau tiêu biểu thể hiện sự tìm tòi đổi mới của truyện ngắn sau 1975. Truyện cực ngắn, truyện ngắn ngắn, truyện siêu ngắn truyện mi ni Truyện cực ngắn hay còn gọi là truyện ngắn mi ni là khái niệm để chỉ những truyện ngắn dưới 1000 từ. Trên thế giới, dạng thức truyện ngắn mi ni không còn quá mới mẻ. Từ những năm cuối của thế kỷ 19, đầu thế kỷ hai mươi, Kapka đã viết những truyện ngắn dưới 500 Làng gần nhất nổi tiếng của ông dưới 100 từ. Một số truyện khác như Những thân cây, Về những ẩn ngữ,… chỉ khoảng 50 từ. Xu hướng viết truyện cực ngắn xuất hiện và rộ lên thành phong trào ở nước ta chủ yếu xuất hiện từ sau 1975. Vào khoảng giữa thập kỷ 80, Tạp chí Thế giới mới, phụ san của báo Giáo dục thời đại, lần đầu tiên tổ chức cuộc thi truyện ngắn mi ni. Cuộc thi đã thu hút hàng trăm cây bút với hàng nghìn tác phẩm trên khắp cả nước. Cuộc thi không chỉ xới lên hứng thú viết truyện mi ni mà còn tạo dấu mốc, từ nay truyện mi ni sẽ có chỗ đứng trong sự quan tâm của độc giả Việt Nam. Trong thời đại thông tin như hiện nay, người ta đọc truyện qua Môbai, qua các trang Web điện tử nên xu hướng viết truyện mi ni đang là sự lựa chọn của nhiều cây bút, nhất là những cây bút thế hệ 8X, 9X. Đặc điểm của truyện cực ngắn là sự giản lược tối đa tình huống, tình tiết, chi tiết truyện. Nếu truyện ngắn “sống” bằng chi tiết thì truyện mi ni “sống” bằng ý tưởng. Tình tiết, chi tiết, tình huống trong truyện mi ni không có giá trị tạo dựng cốt truyện mà chỉ có ý nghĩa gợi ra ý tưởng. Người đọc không phải quá bận tâm về tình tiết, chi tiết mà cần quan tâm đến sự gợi mở của các tình tiết, chi tiết ấy. Ở truyện cực ngắn, tình tiết, chi tiết như chiếc chìa khoá để mở ra những lớp ý tưởng mà tác giả muốn gửi gắm và người đọc đồng sáng tạo. Thử khảo sát một vài truyện sau Truyện “Nó” Ba nó bỏ đi lúc nó còn đỏ hỏn. Ngoại và mẹ nuôi nó trong nghèo khó. Đau khổ và hạnh phúc. Được vài năm, cái đói nghèo cướp mất ngoại. Thiếu hơi bà, nó ngằn ngặt khóc đêm. Mẹ chỉ ôm nó vào lòng, để tay lên ngực trái, dỗ dành “Ngoại có đi đâu! Ngoại ở đây mà!”. Vậy là nó nín. Rồi mẹ cũng theo bà. Hôm tang mẹ, thấy dì khóc, nó bảo “Mẹ có đi đâu! Mẹ ở đây mà!” rồi lấy tay đặt trên ngực trái, chỗ trái tim. Nó dỗ thế mà dì chẳng nín, lại ôm nó khóc to hơn. Thanh Hải [ Có một số chi tiết được nói tới nhưng không được khai thác mà chỉ đưa ra như những thông báo Ba bỏ đi, Ngoại mất, Mẹ mất. Nó khóc đòi ngoại Có nhân vật Ba, Ngoại, Mẹ, Dì, và Nó, nhưng cũng chẳng có nhân vật nào được khắc hoạ tính cách cụ thể mà chỉ được gợi ra, được nhắc đến, có vai trò như “phông”, “nền” để tác giả đóng lên cái “đinh” chi tiết. Toàn bộ câu chuyện này xoay quanh chi tiết được dùng hai lần, chi tiết “đặt tay lên ngực trái, chỗ trái tim”. Mẹ nó đã dùng cách ấy để an ủi nó khi Ngoại nó mất. Trái tim bé thơ của nó đã đặt niềm tin tuyệt đối vào sự cứu rỗi đó và nó cũng định dùng cách này để giúp Dì. Nhưng Dì nó không những không nín mà còn “ôm nó khóc to hơn”. Nếu coi đây là chi tiết diễn đạt tư tưởng của truyện thì ngay cả ở chi tiết này tư tưởng cũng không nằm trong chi tiết mà nằm ngoài chi tiết. Người đọc có thể thấy sức nén của chi tiết. Tác giả không mô tả chi tiết, không diễn tả cảnh huống mà chỉ thông báo “kết quả” của cảnh huống, vì thế tất cả nội dung của truyện được “gợi” chứ không “tả”. Chẳng hạn, để thuyết phục một đứa trẻ thiếu cha, mẹ bươn chải kiếm sống, tuổi thơ sống với bà, được bà yêu chiều bằng sự bù đắp tình thương thì khi bà mất, chắc chắn đó sẽ là một mất mát lớn, không thể chỉ bằng một động tác và một lời thuyết phục đơn giản “Ngoại ở đây”. Nhưng chi tiết đứa trẻ vận dụng cách ấy để thuyết phục người lớn thì có thể có thật vì nó là đứa trẻ, tâm hồn ngây thơ trong trắng và tình yêu bà khiến nó có điểm tựa niềm tin. Có thể nói, tác giả đã “tóm” được chi tiết vừa giàu sức khái quát vừa rất cụ thể sinh động này để tạo nên hồn cốt cho tác phẩm Tình yêu, sự yêu thương, chia sẻ, cảm thông, lòng nhân văn, nhân ái, vẫn là nội dung dễ lay động lòng người. Đó là điểm bắt đầu và là cái đích cuối cùng trong hành trình mà tạo hoá ban cho hành trình làm người. Tác giả Thuý Bắc lại có một truyện ngộ nghĩnh khác, truyện “Con muốn” Cu Tí, ngoài giờ học bán trú ở trường. Buổi tối và chủ nhật còn phải thêm môn học đàn, học vẽ, học tiếng Anh. Thằng Tèo nhà bên cạnh bố mất sớm, mẹ nó phải nuôi ba đứa em nên Tèo phải nghỉ học. Hàng ngày mỗi khi nghe thấy tiếng đàn của Tí, Tèo rón rén nép mình bên hàng rào nhòm vô. Nhìn ra thấy Tèo đứng đó, Tí mếu máo - Ba ơi, con muốn được như thằng Tèo [ Ở truyện này, ý nghĩa của truyện cũng không nằm trong chi tiết mà nằm ngoài chi tiết, từ sức gợi của chi tiết Tèo, đứa trẻ thiếu cha, thèm những gì mình không có; Tí - quá đủ đầy sinh ra tâm lý ngược lại muốn chối bỏ những điều kiện quá đủ đầy mà với tuổi thơ, có khi đó lại là gánh nặng, là áp lực. Triết lý rút ra từ đây Hạnh phúc là cái gì thật khó giải thích, bất hạnh của kẻ này đôi khi lại là niềm mơ ước của kẻ khác. Song, ý nghĩa của câu chuyện không chỉ có thế. Từ mâu thuẫn đằng sau tiếng cười là nước mắt, là thông điệp đầy day dứt xã hội vẫn còn nhiều những cảnh ngộ éo le như hoàn cảnh của cu Tí; làm sao để mọi đứa trẻ đều được đến trường? làm sao để có một nền giáo dục lý tưởng - ở nền giáo dục ấy mọi trẻ em đều được quan tâm đúng như tinh thần của câu khẩu hiệu “Hãy giành cho trẻ em những gì tốt nhất”. Ở môi trường giáo dục ấy, mọi trẻ em đều tìm thấy niềm vui, hạnh phúc, tình bạn, và niềm tin yêu vào cuộc đời. Hoặc giả, có thể còn thông điệp khác, hãy bớt chút thời gian để quan sát cuộc sống của những người xung quanh, ta sẽ nhìn ra mình rõ hơn, có cách sống hài hoà hơn, biết chia sẻ và cảm thông với đồng loại. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy truyện mi ni đang ngày càng nở rộ và chiếm lĩnh văn đàn ở nhiều hình thức. Truyện trong truyện và truyện liên hoàn Ngược lại với kiểu truyện mi ni, dạng thức truyện trong truyện và truyện liên hoàn lại là hình thức kéo dài truyện, chuyện nọ kéo sang chuyện kia hoặc gối lên nhau thành các lớp truyện hoặc chuỗi truyện nhiều khi khá phức tạp. Đại diện cho kiểu kết cấu cốt truyện này là Nguyễn Huy Thiệp. Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp rất nhiều chi tiết, tình tiết. Mỗi nhân vật trong tác phẩm có thể đều tạo ra một đường dây sự kiện riêng, một mạch truyện riêng. Tác giả giống như người ưa la cà, và cũng là người tinh thông mọi chuyện, vì vậy, hễ cần dừng lại để lý giải, cắt nghĩa thì dường như ngay lập tức điều đó sẽ được làm sáng tỏ ngay. Thử lấy truyện Tướng về hưu làm minh chứng. Trong truyện ngắn này người đọc thấy có một loạt mạch truyện về các nhân vật có tên trong tác phẩm Chuyện về tướng Thuấn, liên quan đến nhân vật chính này là chuyện về vợ tướng, con trai của tướng, cô con dâu, hai bố con người giúp việc, ông em họ xa, cô cháu họ xa, thậm chí một kẻ tạt ngang câu chuyện như một vết nhơ như nhân vật Khổng ở xí nghiệp nước mắm - nhà thơ cũng được tác giả “trích ngang” mấy dòng đủ để hình dung về loại thi sĩ nửa mùa kém cỏi về nhân cách. Truyện Con gái thuỷ thần là ba truyện ghép lại theo cấu trúc rất rời rạc truyện thứ nhất, truyện thứ hai, truyện thứ ba. Đặc biệt hơn, truyện Những ngọn gió Hua Tát lại ghép từ 10 truyện, mỗi truyện đều có nội dung riêng, tình tiết riêng. Song, có một điều đặc biệt là, mặc dù truyện của Nguyễn Huy Thiệp có nhiều sự kiện, mạch truyện như vậy nhưng vẫn là truyện ngắn với những yêu cầu nghiêm nhặt của thể loại, bởi những lý do sau thứ nhất, mỗi truyện đều lấy điểm tựa là một lát cắt tình huống cụ thể, một sự kiện chính gắn với một nhân vật trung tâm. Mọi vấn đề xoay xung quanh tình huống chính ấy dù phức tạp và rối ren đến mấy cũng là thành phần nằm “ngoài cốt truyện”. Cái “lõi” thực của cốt truyện vẫn rất đơn giản. Chẳng hạn, truyện Tướng về hưu là tình huống tướng Thuấn sau bao năm trận mạc về nghỉ hưu tại quê nhà. Trong những ngày được tiếp cận với cuộc sống đời thường, vị tướng được chứng kiến thực tiễn của thời mở cửa cơ chế. Tình huống của truyện Sang sông là đứa bé tinh nghịch đút tay vào chiếc bình cổ. Tình huống của truyện Thương nhớ đồng quê sự kiện cô cháu họ xa về thăm quê. Trước mắt cô gái từ bé đã sống ở thị thành, từng du học bên Mỹ, con người và đồng quê Việt Nam thật là một thế giới mới lạ đối với cô. Nhâm, người có nhiệm vụ đón cô gái, đồng thời là “hướng dẫn viên” giúp cô tìm hiểu về con người và cuộc sống nơi đây Theo phong cách kết cấu cốt truyện của Nguyễn Huy Thiệp là Phan Thị Vàng Anh và Nguyễn Ngọc Tư. Truyện ngắn Mười ngày của Phan Thị Vàng Anh cũng được cấu trúc “rời” như vậy, từng ngày một, đúng mười ngày, mười mẩu chuyện nhỏ về diễn biến tâm lý của một cô gái chờ đời người yêu về quê nghỉ tết trong mười ngày. Hàng loạt các truyện Đất đỏ, Khi người ta trẻ, Si tình, Hoa muộn được đánh số các phần. Toàn bộ truyện ngắn được “ghép” từ các mẩu chuyện nhỏ. Người đọc có cảm giác, việc kết thúc hay kéo dài truyện hoàn toàn nằm trong “ngẫu hứng” của tác giả. Sự trễ nải của mạch truyện nằm trong ý đồ của người viết, cũng là một phần tư tưởng của truyện. Như vậy, khi “cài” các đường dây sự kiện xung quanh sự kiện, tình huống chính, tác giả đã mở rộng phạm vi tiếp cận và phản ánh hiện thực. Kiểu truyện lồng trong truyện thể hiện cách nhìn vừa bao quát song cũng thật cụ thể, một cái nhìn đa diện, đa chiều về cuộc sống và con người. Truyện giả thể loại giả ngụ ngôn, giả cổ tích, giả truyền thuyết, truyện truyền kỳ… Giả thể loại cũng là một xu hướng làm mới dạng thức của truyện ngắn sau 1975. Các dạng thức như ngụ ngôn, cổ tích, truyền thuyết, về mặt hình thức có dáng vẻ giống truyện ngắn dung lượng ngắn, chỉ viết về một chuyện và về một vài nhân vật, phạm vi không – thời gian hẹp. Điểm khác biệt lớn nhất giữa truyện ngắn hiện đại với các loại hình truyện dân gian trên là, truyện dân gian không cần quan tâm đến lô gíc hoặc tính xác thực của câu chuyện. Ý nghĩa của truyện đã được định hướng sẵn và sẽ đạt tới mục đích như ý muốn. Đặc biệt, yếu tố huyền thoại kỳ ảo tham gia như một nhân tố chính, nếu không nói là bắt buộc của quá trình sáng tạo truyện. Chẳng hạn, trong truyện ngụ ngôn Trí khôn của ta đây, con hổ biết nói tiếng người, hiểu tiếng người nên bị anh nông dân lừa; Truyện Thánh Gióng với việc Thánh Gióng cởi áo giáp bay về trời; Truyện Nỏ thần với việc Thần Kim Quy hiện ra giác ngộ cho nhà vua và rẽ nước dẫn nhà vua xuống thuỷ cung; Truyện Trầu cau, có việc ba người chết đi hoá thành trầu, cau và đá vôi; Truyện Tấm Cám lại có rất nhiều lần hoá phép Tấm hoá thành chim vàng anh, thành quả thị, thành khung cửi, Một số cây bút hiện đại muốn “mượn” lại hình thức dân gian này để “lạ hoá” nội dung câu chuyện định kể. Hình thức “mượn” thứ nhất là “mượn” chi tiết. Các tác giả dùng các chi tiết mang tính huyền thoại kỳ ảo tham gia vào đường dây tổ chức cốt truyện để tạo sức lôi cuốn hoặc đó chính là cách để tác giả tôn vinh hay phủ định theo cách của dân gian. Song, để yếu tố huyền thoại có chỗ đứng, các tác giả đã tìm ra giải pháp lời đồn, nghe phong thanh, có người kể lại, hoặc dùng hình thức “giấc mơ”, có khi cũng nói thẳng “truyền thuyết huyễn hoặc” Chẳng hạn như các chi tiết “có người kể rằng khi lửa bốc cao thì trong quán có con chuột to bằng bắp chân người phóng thẳng ra ngoài cứ cười hềnh hệch” để ám chỉ việc chứa chấp những việc làm phi nhân tính của lão trùm Thịnh trong truyện Chảy đi sông ơi; Chi tiết hoa Tử huyền ba mươi năm nở một lần, ai may lắm mới bắt gặp như một phần thưởng cho ông Diểu, khi ông thả con khỉ bị thương ra, nồng nỗng trở về tay không sau chuyến đi săn trong truyện Muối của rừng; Chi tiết nhóm thợ được đi trên cầu vồng bảy sắc trong truyện Những người thợ xẻ cũng là cách bày tỏ thái độ khen ngợi những con người có cái tâm thiện theo cách ứng xử dân gian; Chi tiết hôm Nguyễn tức Nguyễn Trãi ngỏ lời cầu hôn Thị Lộ. “Đồn rằng hôm ấy có rồng bay trên sông cái” trong truyện Nguyễn Thị Lộ cũng bày tỏ thái độ ngưỡng mộ cặp “trai anh hùng gái thuyền quyên” mà số phận bi ai hiếm có trong lịch sử. Song chi tiết Đặng Phú Lân bị chém vì chính thanh kiếm gia truyền nên máu không đỏ mà trắng trong truyện Kiếm sắc lại mang thông điệp khác, sự oan nghiệt của số phận; Hình tượng Mẹ cả trong truyện Con gái thuỷ thần mang thông điệp về sức hấp dẫn của niềm tin, của chân lý hoặc lý tưởng, đôi khi là ảo ảnh. Giấc mơ của cô cháu gái trong truyện Hồn trinh nữ của Võ Thị Hảo cũng là một cách bộc lộ quan niệm về vẻ đẹp của tình yêu gắn với nghĩa vụ công dân trong hoàn cảnh đất nước có giặc ngoại xâm. Hình thức “mượn” thứ hai là “mượn” lối viết. Những câu chuyện hư cấu và tưởng tượng hoàn toàn song lại mượn lối viết “chép lại”, có căn cứ, có tài liệu, có địa chỉ cụ thể, thậm chí còn dựng “gia phả” dòng họ kiểu như Nguyễn Huy Thiệp viết Giọt máu, Phẩm tiết, Kiếm sắc, Nguyễn Thị Lộ, Chút thoáng Xuân Hương Với cách viết này, tác giả vừa làm sống lại những thông tin lịch sử khô khan, vừa tạo sắc thái hư hư thực cho những câu chuyện “bịa đặt” thêm phần hấp dẫn. Sự vận động đổi mới ở phương diện trần thuật Trong quan điểm thi pháp thể loại hiện đại, trần thuật có vai trò như là khâu then chốt thể hiện sự cách tân của một tác phẩm, một nền văn xuôi. Nền văn học nào sớm có những khám phá đổi mới ở phương diện này được coi là nền văn học đi tiên phong trên hành trình hiện đại hoá văn học. Một trong những phát kiến vĩ đại của nhà bác học Nga Baktin là đã dùng khoảng cách trần thuật để phân biệt bản chất thể loại của sử thi và tiểu thuyết một cách rõ ràng, khoa học và chính xác nhất. Dấu hiệu khởi sắc theo hướng hiện đại hoá nền văn học Việt Nam nói chung, mà trước hết là ở thể loại truyện ngắn cũng thể hiện rất rõ nét ở phương diện trần thuật. Sự đa dạng, phong phú, biến hoá của trần thuật đã đem lại cho truyện ngắn sau 1975 những biến hình mới, sinh động và thực sự hấp dẫn. Trần thuật từ nhiều điểm nhìn, nhiều góc độ, hay trần thuật “nhập vai” Trần thuật từ nhiều điểm nhìn, nhiều góc độ, hay trần thật “nhập vai” là để chỉ cách trần thuật linh hoạt khi vai trò “phát ngôn” được trao cho nhiều người, nhiều đối tượng trong tác phẩm. Không còn chỉ có một người kể chuyện mà nhiều người kể. Trước một vấn đề, một sự việc nào đó, vì được soi rọi bằng nhiều điểm nhìn, nhiều góc độ nên sẽ hiện ra bằng diện mạo, hình thù khác nhau dẫn đến nhiều luồng dư luận, nhận xét khác nhau, thậm chí ngược nhau, do các điểm nhìn khác nhau về tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính, học vấn, đôi khi là thói quen, sở thích văn có xu hướng đổi mới trần thuật sớm nhất cho nền truyện ngắn sau 1975 là Nguyễn Minh Châu. Trong truyện ngắn Bức tranh, tiếp đó là hàng loạt truyện ngắn khác của ông như Chiếc thuyền ngoài xa, Cơ giông, Sống mãi với cây xanh, Cỏ lau đều có cái nhìn đa chiều, trong xu hướng đối thoại này. Chẳng hạn, trước số phận cực nhọc, cam chịu của người đàn bà trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu để cho nhiều “cái nhìn” soi rọi vào Cái nhìn trẻ thơ trong sáng của đứa con trai khi nó kết án ông bố tàn bạo và thề sẽ giết chết ông ta. Nhưng đứa chị thì hiểu biết hơn, vừa khóc lóc vừa ngăn nó lại. Nhà nhiếp ảnh thì sẵn sàng “giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha”. Viên thẩm phán thì khăng khăng giải pháp ly hôn là đúng đắn nhất để cứu người đàn bà. Nhưng người đàn bà, kẻ hứng chịu tất cả những trận đòn tàn nhẫn và phi lý của chồng thì nhìn nhận khác hẳn “Lòng các chú tốt nhưng các chú không hiểu hết cuộc sống sông nước”. Cuộc sống ấy không thể thiếu bàn tay chèo chống của một người đàn ông và ý nghĩa của người đàn bà là phải vì con cái mình. Từ Nguyễn Minh Châu đến Nguyễn Khải và đặc biệt đến Nguyễn Huy Thiệp, cách trần thuật từ nhiều điểm nhìn đã đạt đến đặc sắc. Để tạo ra sự bình đẳng cho các điểm nhìn, tác giả - người kể chuyện không làm thay nhân vật mà chỉ đóng vai trò “dàn dựng” lại sự việc. Thậm chí sự “dàn dựng” này như được làm một cách ngẫu nhiên. Chẳng hạn, đoạn kể về cha con tướng Thuấn bàn bạc việc gia đình “…Cha tôi bảo “Nghỉ rồi, cha làm gì?” Tôi bảo “Viết hồi ký”. Cha tôi bảo “Không!” Vợ tôi bảo “Cha nuôi vẹt xem”. Trên phố dạo này nhiều người nuôi chim hoạ mi, chim vẹt. Cha tôi bảo “Kiếm tiền à?” Vợ tôi không trả lời. Cha tôi bảo “Để xem đã!”[8, 19]. Hoặc một cảnh khác “Tôi cũng không hiểu tại sao hai đứa con gái của tôi ít gần ông nội. Tôi cho chúng học ngoại ngữ, học nhạc. Chúng lúc nào cũng bận. Cha tôi bảo “các cháu có sách gì mang cho ông đọc”. Cái Mi cười. Còn cái Vi bảo “Ông thích đọc gì?” Cha tôi bảo “Cái gì dễ đọc”. Hai đứa bảo “Thế thì không có”. [8, 20]. Đọc Nguyễn Huy Thiệp có cảm giác, người kể chuyện không mấy khi thực hiện vai trò “kể” mà phần lớn chỉ thực hiện vai trò sắp xếp, tổ chức, nói đúng hơn, người “cắt dán” các cảnh lại với nhau với ý đồ trung thực nhất, ít chủ quan nhất bằng cách hạn chế thấp nhất sự tham gia của trữ tình ngoại đề. Đọc truyện Nguyễn Huy Thiệp, nhiều lúc không tránh khỏi cảm giác thấy truyện rời rạc, lỏng lẻo, lan man. Tuy nhiên, người đọc được trải nghiệm nhiều cảm giác, suy nghĩ, được tranh luận và tự mình thấu nhận, rút ra những điều bổ ích. Và quan trọng nhất là tránh được cảm giác nhàm chán, đơn điệu trong cách tiếp cận tác phẩm. Trần thuật bằng dòng ký ức nội tâm Ngược với kiểu trần thuật “nhập vai”, trao vài trò kể chuyện cho nhiều người là kiểu trần thuật bằng “dòng ký ức nội tâm”. Với cách trần thuật này, mọi chuyện diễn ra trong dòng chảy ký ức hoặc dòng chảy nội tâm. Đây cũng là cách để tác giả “khách quan hoá” nội dung hiện thực trong tác phẩm hoặc tha hồ khám phá miền ẩn ức bên trong của tâm hồn con người. Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư và hàng loạt cây bút trẻ mới xuất hiện gần đây như Nguyễn Thế Hoàng Linh, Miêng, Trang Thanh, Trần Đức Tiến, Đỗ Hoàng Diệu đi theo xu hướng này. Truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư là dòng chảy miên man trong suy nghĩ của nhân vật Nương- cô gái tội nghiệp, nạn nhân của thái độ vô trách nhiệm của người lớn, của sự tan vỡ hạnh phúc gia đình. Trong truyện ngắn này ai cũng nói rất ít, phần lớn những câu đối thoại hay độc thoại đều được “dịch” thông qua những phán đoán suy nghĩ chứ không phải là những lời thoại trực tiếp. Qua ký ức của cô bé, tuổi thơ hiện về, ba, má, cuộc sống nghèo mà yên bình trong xóm nhỏ. Rồi những bất ngờ dữ dội xảy đến, má bỏ đi, ba hận má, hận cuộc đời, kế đó là những năm tháng trôi nổi, phiêu dạt như những kẻ cô đơn, lạc loài trong xã hội loài người cho đến khi tai hoạ thực sự rơi xuống đầu…Kết thúc truyện vẫn là những dòng ký ức đau nhói, hoà trộn xót xa vói ân hận, thức ngộ và đau đớn tột cùng “…Rồi ký ức ùa về kinh hãi, vẻ mặt má tôi hôm bị người đàn ông bán vải đo lên người hình như không phải là khoái lạc thăng hoa, nó giống như tôi bây giờ, đau ràn rụa, nhói tận chân tóc. Trời ơi sao tôi lại không nhận ra điều đó, ngay lúc ấy để giấu kín nỗi ám ảnh trong lòng, giả đò tươi cười với má, xem như không có chuyện gì, để chiều chiều cùng má ra sông, hỏi nhau, không biết chừng nào thì cha về [9, 212]. Miêng trong truyện Hải nữ, Trần Đức Tiến trong truyện Miền cực lạc còn sáng tạo ra kiểu “phân thân” giữa linh hồn và thể xác để đi du ngoạn trong thế giới thầm kín, riêng tư nhất của nhân vật. Trong thế giới ấy, người ta như là một con người khác, nhiều khi khác biệt hoàn toàn với con người thường ngày. Con người hàng ngày của ông P là một con người bình thường hết sức, bình thường đến mức không gây một chút chú ý nào cho ai, ông lại có tính hay đỏ mặt. Nhưng khi ông tự tách linh hồn ra khỏi thân xác và linh hồn ông tự do phiêu diêu thì linh hồn ấy có thể làm những chuyện không thể tưởng tượng nổi. Ông P luôn luôn đi thực hiện những chuyến gặp gỡ, hẹn hò bí mật với những người đàn bà mà ông thích hoặc muốn một á hậu xinh đẹp, một cô thợ may mà ông thấy gần gũi, có lúc còn lạc vào nhà thổ như với cách thể hiện này, tác giả muốn chứng minh, trong con người ta ai cũng có hai con người. Một con người với thân xác hiện hữu cùng với muôn mối ràng buộc của nghĩa vụ và trách nhiệm và một con người bên trong thầm kín với những suy nghĩ, việc làm chỉ mình mình biết. Con người bên trong ấy có đời sống riêng và luôn tìm cách chống lại con người cụ thể với thân xác hiện hữu. Phải chăng, đó cũng là nhận thức và khám phá về sự phức tạp của con người. Kiểu trần thuật dòng ký ức thường được những cây bút trẻ khai thác, có lẽ vì nhu cầu khám phá, nhất là khám phá bản thân luôn là nhu cầu của lứa tuổi này. Gián cách thời gian trần thuật Gián cách thời gian trần thuật là cách mà Nguyễn Thị Minh Thư đã sử dụng trong truyện ngắn Có một đêm như thế. Cùng một lúc tác giả cho xuất hiện ba lớp thời gian nhưng không phải kiểu thời gian đồng hiện hoặc liên tưởng của ký ức. Tuy nhiên, cách trần thuật này dường như không mấy thông dụng, bởi không có nhiều người lựa chọn lối viết gián cách này. Có lẽ cách viết này có cái khó riêng không dễ áp dụng hoặc sáng tạo. Sự vận động đổi mới ở phương diện ngôn ngữ Với tư cách là công cụ của tư duy, là “cái vỏ của tư duy”, sự biến đổi của ngôn ngữ văn học liên quan chặt chẽ đến sự biến đổi của tư duy văn học. Vì vậy, sự xác định tiêu chí cho vấn đề này không dễ. Chẳng hạn, nhiều người đánh giá cao bước phát triển của ngôn ngữ văn xuôi hiện nay thí dụ nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong lần nói chuyện với cán bộ, sinh viên khoa Ngữ văn- ĐHSP Hà Nội ngày 16-4-1994 cho rằng; “Lớp trẻ đã có ngôn ngữ mới. Nguyễn Huy Thiệp là người thực sự cách tân ngôn ngữ truyện ngắn. Phạm Thị Hoài, Phan Thị Vàng Anh cũng thế”. Nhưng cũng nhiều người phản ứng, hoảng sợ, họ thấy văn Nguyễn Huy Thiệp “dung tục”, “kinh tởm”, văn Phạm Thị Hoài là văn của người “nhìn đời Việt Nam bằng con mắt Do Thái và văn viết bằng tiếng của ý kiến của tác giả Triệu Minh về Phạm Thị Hoài trên văn ghệ số 2- 1996. Tiếng Việt trong sáng nhờ được mỹ lệ hoá hay chính xác hoá, nhờ sự khu biệt hay khả năng hội nhập? Những vấn đề này cho đến nay vẫn còn bỏ ngỏ. Ở đây, chỉ nêu một số đặc điểm ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật thấy đổi khác so với giai đoạn trước 1975. Ngôn ngữ đời thường- gia tăng tính khẩu ngữ Trong văn xuôi, bước đổi thay của ngôn ngữ lúc đầu gắn với nhu cầu “được nói thật”. Sự cổ vũ của Đảng “nhìn thẳng và nói thật” cho phép nhiều tác phẩm chống tiêu cực ra đời. Ngôn ngữ văn xuôi bắt đầu bớt đi vẻ trang trọng, ít du dương, ít rào đón mà gần gũi với đời thường, chân thật trong giọng điệu, thô nhám trong từ ngữ. Sự xuất hiện của Nguyễn Huy Thiệp như một hiện tượng “lạ”. Ngoài khả năng biến ảo của một bút pháp đa dạng, đa tầng, tác giả này còn gây cú sốc thực sự cho ngôn ngữ văn học. lối nói “cộc lốc”, sắc bén và hàm súc, câu văn ngắn gọn, dồn dập, hạn chế tối đa các liên từ, nén năng lượng làm rung chuyển lối văn mực thước, trang trọng hoặc rào đón, đưa đẩy. Ngòi bút tác giả này như không hề biết đến những gửi thưa kiểu cách, những nghi thức nhiều khi rất nhiều khách sáo, mặc nhiên khẳng định tư thế bình đẳng, dân chủ giữa con người với con người. lối văn đó phù hợp với cái hiện thực đời thường mà anh mô tả. Chẳng hạn, tác giả tả đám cưới của anh chàng lái xe bò kết hôn với cô mẫu giáo con ông vụ phó “đám cưới ngoại ô lố lăng và khá dung tục. Ba ô tô. Thuốc lá đầu lọc nhưng gần cuối tiệc hết sạch, phải thay bằng thuốc lá cuốn. Năm mươi mâm cỗ nhưng ế mười hai. Chàng rể mặc com lê đen, cravát đỏ. Tôi phải cho mương cái cravát đẹp nhất trong tủ áo. Nói là mượn nhưng chắc gì đòi được. Đầu tiệc là dàn nhạc sống chơi bài Ave Maria. Một anh cùng hợp tác xã xe bò thằng Tuân nhảy lên đơn ca một bài khủng khiếp…” [8, 22] Cùng với Nguyễn Huy Thiệp và trong không khí dân chủ cởi mở của xã hội, xuất hiện hàng loạt cây bút trẻ. Họ ít bị ràng buộc bởi những tín điều đạo đức, luân lý, vừa tự tin vào mình, vừa nhiều hoài nghi đối với cuộc đời. Họ sử dụng văn chương để bộc lộ “cái tôi” cá tính là chính, nên họ quan tâm hơn đến vấn đề “viết như thế nào”. Phạm Thị Hoài quan niệm “viết như một phép ứng xử”. Và trong quan niệm ấy, nhà văn nữ này chọn phép ứng xử không tiếp tục thứ văn chương “đặc sản dành riêng cho những người sành ăn” như văn chương Nguyễn Tuân mà chọn hướng văn chương “gia tăng tính khoa học, tốc độ và khả năng biểu đạt tư duy hình tượng của nó”. Có thể nói, chưa bao giờ văn chương gần với ngôn ngữ sinh hoạt – thế sự đến thế. Chưa bao giờ những câu chửi thề, chửi tục, lối nói trần trụi xuất hiện nhiều đến thế. Để chống lại lối văn chương nhiều tính hành chính khô khan hoặc du dương thi vị nhưng ít cá tính, ngôn ngữ truyện ngắn dung nạp rất nhiều khẩu ngữ, cố tính coi thường cú pháp, “nhại” lại mọi ngôn ngữ kiểu cách. Chẳng hạn “Man Nương, tôi gọi em như vậy những buổi chiều bốn mét nhân bốn mét rưỡi nhân hai mét tám màu xanh lơ trong căn phòng trống rỗng tầng ba có hai nhành xanh một thứ cây nào đó tôi không bao giờ biết tên” Man Nương- Phạm Thị Hoài. Hoặc “Chức cách đây mấy hôm tthấy chạy xe vèo vèo ngoài ngã ba chở một đứa con gái bé như cái kẹo, không ôm iếc gì cả nhưng nhìn thì biết ngay là bồ bịch” Hoa muộn- Phan Thị Vàng Anh; “Cái lão Khúng này thiết đếch gì! Sao với chả trăng! Cho cái mặt trời ông cũng đếch thiết nữa là!...” Phiên chợ Giát- Nguyễn Minh Châu; “…thế đấy. Chó của tôi thì kém đếch gì một con beo? Này, anh còn nhớ thượng tướng Th không? Cái ông già gàn dở nổi tiếng toàn quân về phong thái “hiên ngang” ấy mà, đã gạ đổi con Tuýt lấy một cặp bẹc giê Sibêri đấy. Ồ xin lỗi! Ngài hãy đổi cho tôi một cặp rồng thực sự, tôi cũng xin kiếu ngài thôi”Con thú bị ruồng bỏ- Nguyễn Dậu Ngôn ngữ tăng cường tính tốc độ, thông tin và triết luận Nhu cầu gia tăng tính tốc độ và thông tin đặt ra như một đòi hỏi chính đáng và tất yếu ở thời đại “bùng nổ thông tin”, thời đại của công nghệ kỹ thuật cao, liên quan đến nhịp sống hiện đại, nhất là nhịp điệu của cơ chế thị trường. Tính tốc độ thể hiện ở cách vào truyện nhanh, diễn đạt ngắn gọn, nén thông tin. Ở phương diện ngôn ngữ, có thể nhận thấy việc sử dụng các “điển cố” hiện đại như các thuật ngữ khoa học chuyên ngành, thậm chí cả tiếng nước ngoài vào trong diễn đạt, chẳng hạn “chuỗi xoắn kép, đột biến, bức xạ nhiệt, đồ thị hyperbol, the end of something cụm từ này thay thế cho rất nhiều lời diễn giải. Nhiều khi, một thứ ngôn từ ước lệ, “hàm súc” và nhiều ngụ ý bắt nguồn từ sinh hoạt giao tiếp hiện đại, nếu được sử dụng đắc địa, nó vừa như một hình thức phổ biến của khẩu ngữ Việt Nam, mang đậm dấu ấn lịch sử, tâm lý, vừa chuyển tải được thông tin lớn. Thí dụ “Bản nhạc đánh theo kiểu nội địa” Chuyện thày AK. Kẻ sĩ Hà Thành. “Nào hết cấm vận đến nơi, nào kinh tế thị trường quốc tế, nào liên doanh thương mại thế mạnh” Đất xóm chùa- Đoàn Lê; “Đảm bảo không có chuyện Nguyễn Văn Mười Hai” Vũ điệu của cái bô- Nguyễn Quang Thân Lượng thông tin đạt đến mức tối đa nằm ở một thứ ngôn ngữ đa nghĩa, nhiều ngụ ý. Ngôn ngữ này là kết quả tất yếu của tính phức điệu, đa thanh trong tư duy tiểu thuyết. Mặt khác, ngôn ngữ đa nghĩa cũng là sản phẩm của hứng thú triết luận càng ngày càng nổi rõ trong văn xuôi. Văn Nguyễn Huy Thiệp đa nghĩa từ chi tiết đến tổng thể, nhiều sức gợi liên tưởng ra bên ngoài tác phẩm. Cái “phức tạp”, “nhiều tầng lớp” có được, một phần là nhờ ngôn ngữ đầy tính ẩn dụ, nhiều nghĩa, cho phép người đọc phát huy cao độ sức liên tưởng và kinh nghiệm cá nhân vào việc lĩnh hội nghệ thuật. Xin nêu một số ví dụ lời Đặng Phú Lân nói với Nguyễn Ánh về thanh bảo kiếm “Trước chúa công chỉ thấy đầu rơi dưới kiếm, bây giờ mới nhìn rõ kiếm, thế là sắp thanh bình thịnh trị rồi đó” Kiếm sắc; “Trời rất xanh. Giữa trời có đám mây trắng trông hệt dáng điệu một nhà hiền triết. Thoắt cái, gió xua mây đi, nhà hiền triết biến thành con chó xồm lớn”Nguyễn Thị Lộ- Nguyễn Huy Thiệp. Các tác giả có thiên hướng kiếm tìm ý nghĩa triết học nhân sinh qua diễn tả đời sống cụ thể. Điều đó đem lại cho các tác phẩm ý vị triết lý và giá trị phổ quát. Đáp ứng yêu cầu này, ngôn ngữ văn xuôi tất yếu sẽ bớt đi phần “kể”, phần “tả” và tăng phần triết luận, khái quát, nhà văn khi ấy sẽ hiện diện qua ngôn ngữ “trữ tình ngoại đề”. Ở Nguyễn Minh Châu, thường thấy như vậy “Rồi thì cũng như mọi người khác, tôi vẫn không thể đi trốn được số phận, tôi không thể đi trốn được khỏi cuộc đời mình một khi mà tôi còn sống”, “chiến tranh làm người ta hư đi hơn là làm người ta tốt lên”, “Nỗi đau mất mát trong lòng người đàn bà lắm khi chả khác nắm cỏ trong dạ dày loài nhai lại..”Cỏ lau. “Tôi đưa cháu Quỳnh về trước đây. Ông cứ yên tâm. Thân thể cháu Quỳnh vẫn nguyên vẹn. Nhưng băng đạn mà ông bắn vào lòng nhân ái, vào tình yêu thiên nhiên của cháu Quỳnh thì không thể nào cứu chữa nổi” Con thù bị ruồng bỏ - Nguyễn Dậu. Cùng với hình thức đã có nhiều thay đổi, ngôn ngữ của truyện ngắn ngày nay, linh hoạt, sinh động và giàu chất đời thường. Ba chục năm qua, nhìn lại ngôn ngữ của truyện ngắn nói riêng, văn xuôi nói chung đã hiện diện qua “các cuộc thí nghiệm”. Đã là thí nghiệm không tránh khỏi phiêu lưu. Tuy nhiên, “cùng với thời gian và độ chín của các tài năng, ngôn ngữ của truyện ngắn đã và đang đạt đến độ ngưng kết mới”. Kết luận Truyện ngắn Việt Nam trong vòng ba mươi năm qua đã đi trọn một chặng đường. Chặng đường ấy gắn liền với sự kiện chính trị trọng đại Đại hội VI quyết định cho công cuộc đổi mới toàn diện trên đất nước. Văn học thuộc lĩnh vực nhận thức xã hội thông qua cá nhân nhà văn nên không thể không chịu ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của xã hội. Truyện ngắn sau 1975 tuy có khác nhiều so với truyện ngắn giai đoạn 1945 - 1975 nhưng nó vẫn phát triển trên cái nền của những thành tựu truyện ngắn 1945 - 1975 đã đạt được. Ngay những nhược điểm, những hạn chế không thể tránh khỏi của giai đoạn trước cũng giúp cho kinh nghiệm nghệ thuật của giai đoạn sau rất nhiều. Nhìn tổng thể, sự vận động của truyện ngắn sau 1975 đã diễn ra giống như một cuộc nhận đường toàn diện và sâu sắc từ ý thức nghệ thuật đến hành vi sáng tạo, từ tư tưởng đến thi pháp. Sự vận động ấy hướng mạnh mẽ đến những nỗ lực cách tân nhằm đổi mới thể loại. Về mặt hình thức, truyện ngắn Việt Nam sau 1975 đổi mới rõ rệt nhất ở ba phương diện dạng thức cấu trúc cốt truyện, trần thuật và ngôn ngữ truyện. Những cách tân ở ba phương diện ấy đã góp phần tạo nên diện mạo mới cho truyện ngắn Việt Nam, thể loại vốn được xem là thể loại “cái” của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Văn Long - Lã Nhâm Thìn chủ biên 2006, Văn học Việt Nam sau 1975, những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, H. 2. Nguyễn Đăng Mạnh, "Nói ngắn về truyện rất ngắn", Thế giới mới số 69/1993. 3. Nguyên Ngọc 1994, Truyện rất ngắn - tác phẩm nghệ thuật Lời giới thiệu tập 40 truyện ngắn chung khảo cuộc thi truyện thế giới mới, Nxb Hội nhà văn, H. 4. Lã Nguyên, "Nguyễn Minh Châu và những trăn trở trong đổi mới tư duy nghệ thuật", Tạp chí văn học, Số 2/1989. 5. Bùi Việt Thắng 2000, Truyện ngắn, những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại, Nxb Đại học Quốc gia, H. 6. Hỏa Diệu Thuỳ, "Chặng khởi động trong hành trình truyện ngắn Việt Nam sau 1975", Tạp chí Văn học, Số 07/2011. 7. Hỏa Diệu Thúy, "Về một số khuynh hướng thể tài của truyện ngắn Việt Nam sau 1975", Tạp chí Khoa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tháng 6/ 2010. 8. Nguyễn Huy Thiệp 2003, Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Nxb Văn học. 9. Nguyễn Ngọc Tư 2005, Cánh đồng bất tận, Nxb Trẻ. Ngày đăng 03/06/2016, 0949 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Nguyễn Thị Phương Thảo TRUYỆN NGĂN VIỆT NAM SAU NĂM 1975 VIẾT VỀ CHIẾN TRANH Chuyên ngành Lí luận văn học Mã số 62 22 01 20 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC Hà Nội - 2016 Công trình hoàn thành tại Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội Người hướng dẫn khoa học Trần Khánh Thành Phản biện 1 Phản biện 2 Phản biện 3 Luận án bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp … họp Vào hồi ngày tháng năm 20 Có thể tìm hiểu luận án tại - Thư viện Quốc gia Việt Nam - Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN [1] Nguyễn Thị Phương Thảo 2013, “Diện mạo truyện ngắn viết đề tài chiến tranh Nguyễn Minh Châu hai thời kỳ sáng tác”, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật Quân đội, số + 4, tr 52 - 53 72 [2] Nguyễn Thị Phương Thảo 2014, “Truyện ngắn chiến tranh qua thi Văn nghệ Quân đội đầu kỉ XXI”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 810 81, tr 162 – 167 [3] Nguyễn Thị Phương Thảo 2016, “Cảm hứng nhân truyện ngắn Việt Nam viết chiến tranh sau 1975”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 839, tr 91 - 96 [4] Nguyễn Thị Phương Thảo 2016, “Yếu tố giấc mơ kỳ ảo truyện ngắn Việt Nam đương đại viết chiến tranh”, Tạp chí Lí luận Phê bình Văn học, nghệ thuật, số 44, tr 60 – 64 [5] Nguyễn Thị Phương Thảo 2016, “Nhân vật người lính truyện ngắn Việt Nam đương đại”, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 382, tr 82 – 85 MỞ ĐẦU Lí chọn đề tài Hiện nay, công trình nghiên cứu đề tài truyện ngắn chiến tranh chưa nhiều Trong khuôn khổ viết ngắn mục nhỏ công trình, vấn đề đặt rải rác,diện khảo sát thường hẹp số lượng tác phẩm Nghiên cứu truyện ngắn chiến tranh từ sau 1975 số góc độ nội dung nghệ thuật, hi vọng đem lại nhìn tương đối toàn diện mảng truyện ngắn với nhiều giá trị đặc sắc tiềm ẩn Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích Trên sở khảo sát nghiên cứu truyện ngắn sau 1975 viết chiến tranhtrong so sánh đồng đại với truyện ngắn nói chung, với tiểu thuyết chiến tranh…và so sánh lịch đại truyện ngắn chiến tranh giai đoạn trước 1975, luận án muốn tìm đặc điểm, yếu tố kế thừa cách tân truyện ngắn viết đề tài chiến tranh Nhiệm vụ Qua việc tổng hợp tư liệu, luận án làm sáng rõ vấn đề lí luận thay đổi tư nghệ thuật, số yếu tố thi pháp đặc trưng thể loại truyện ngắn phân tích cụ thể sáng tác chiến tranh Đối tượng phạm vi nghiên cứu Đối tượng Một số phương diện quan trọng nội dung, nghệ thuật, đặc điểm truyện ngắn viết chiến tranh nhìn từ thời bình Sự thay đổi cách nhìn thực, giới nhân vật đa chiều, đặc sắc phương thức biểu truyện ngắn chiến tranh đương đại Phạm vi Luận án nghiên cứu tác phẩm tiêu biểu tuyển tập truyện ngắn hay chiến tranh, truyện ngắn hay đoạt giải Tạp chí Văn nghệ quân đội tuyển chọn từ 1975 đến năm 2016 Bên cạnh truyện ngắn chiến tranh tác giả tiêu biểu nhưNguyễn Minh Châu,Bảo Ninh, Sương Nguyệt Minh, Trung Trung Đỉnh, Chu Lai, Võ Thị Hảo, Trần Thanh Hà, Vũ Thị Hồng Đồng thời, luận án đề cập đến truyện ngắn gần chiến tranh phạm vi mà tác giả cập nhật Phương pháp nghiên cứu Trong trình thực hiện, luận án sử dụng số phương pháp nghiên cứu sau phương pháp lịch sử- xã hội, phương pháp so sánh, phương pháp tiếp cận thi pháp học, phương pháp loại hình, phương pháp nghiên cứu liên ngành Đóng góp luận án Qua việc tìm hiểu truyện ngắn Việt Nam sau 1975 chiến tranh, luận án bổ sung cách nhìn truyện ngắn đương đại Trên sở lý luận thực tiễn khảo sát tác phẩm, luận án đánh giá tác động thay đổi bối cảnh thực tư tưởng, quan niệm nghệ thuật đến truyện ngắn chiến tranh Luận án nét đặc trưng, kế thừa cách tân số phương diện nghệ thuật truyện ngắn sau 1975 viết chiến tranh cốt truyện, tình huống, nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ giọng điệu Cấu trúc luận án Ngoài phần mở đầu kết luận, luận án tổ chức thành bốn chương sau Chương Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương Hiện thực chiến tranh với hướng tiếp cận Chương Các loại hình nhân vật chủ yếu Chương Những phương thức nghệ thuật đặc sắc CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Đặc trưng thể loại truyện ngắn Khái niệm Một số đặc trưng truyện ngắn đại Phương thức chiếm lĩnh thực truyện ngắn hướng đến toàn đầy đặn toàn vẹn tiểu thuyết mà tập trung đặc tả tượng, nét chất người, khoảnh khắc ngắn ngủi đời sống Truyện ngắn có đặc trưng riêng dung lượng, kết cấu, cốt truyện, tình huống, chi tiết Văn học chiến tranh- từ góc nhìn Từ góc nhìn số tác giả nước nhìn phía văn học Mỹ Với đề tài mang tính nhân loại, văn học chiến tranh nhận quan tâm nhà nghiên cứu nước giới thiệu Việt Nam Qua thấy nhiều vấn đề, quan điểm tương đồng có ý nghĩa học kinh nghiệm Điểm bật khẳng định vị trí, sức hấp dẫn đề tài chiến tranh đặt vấn đề phải viết để nói lên tầm vóc kháng chiến vĩ đại dân tộc, tâm người sau chiến tranh Một số viết khác đề cập đến sáng tác tác giả Mỹ chiến tranh Việt Nam cho từ thập kỷ 1970 đến chiến tranh trở thành đề tài lôi nhiều người cầm bút Mỹ nhiều thể loại Từ ý kiến phê bình nước Dựa nhiều khuynh hướng lí thuyết với tiêu chuẩn giá trị, đánh giá khác nhau, hướng nghiên cứu phổ biến đặt truyện ngắn đề tài chiến tranh văn xuôi chiến tranh Có thể thấy mảng văn học viết đề tài chiến tranh nghiên cứu phê bình nhiều bình diện, tập trung vào vị trí đề tài, lực lượng viết, thay đổi cách tiếp cận đề tài cho phù hợp với sống đương đại nhìn dân chủ sau chiến tranh Tình hình nghiên cứu truyện ngắn sau năm 1975 viết chiến tranh Những nghiên cứu truyện ngắn sau 1975 nói chung Bên cạnh viết khái quát, số tác giả sâu vào vấn đề cụ thể cảm hứng nữ quyền, truyện ngắn lịch sử, văn xuôi mạng…Những viết thường xuất phát từ vài phương diện để cắt nghĩa, giải mã độc đáo sáng tác tác giả hay tác phẩm, tập truyện số tác giả chọn cách tiếp cận truyện ngắn đương đại từ áp dụng lí thuyết phê bình phương tây Các viết chủ yếu bàn số khía cạnh truyện ngắn vận động thể loại Những luận án nghiên cứu truyện ngắn thường chọn số vấn đề để làm rõ, gợi mở cho công trình nghiên cứu khác Những đổi truyện ngắn từ sauu 1975 chiến tranh Một số nhà nghiên cứu đổi tư nghệ thuật biểu qua đề tài, xây dựng nhân vật Do khuôn khổ viết nên tác giả thường tập trung giải cách thấu đáo số khía cạnh đổi truyện ngắn chiến tranh Đó vấn đề để ngỏ Bên cạnh phê bình đề cập trực tiếp đến truyện ngắn chiến tranh, có số nhà phê bình bàn tác phẩm, nhà văn cụ thể viết đề tài chiến tranh như Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh, Từ Nguyên Tĩnh, Xuân Thiều Cách nhìn đem đến quan sát nhìn cụ thể tác giả, tác phẩm xuất văn đàn, nhìn khái quát truyện ngắn chiến tranh Đó gợi ý cho nghiên cứu đề tài Ngoài ra, bàn văn xuôi nói chung, truyện ngắn nói riêng đề tài chiến tranh xuất rải rác số báo, tạp chí, luận văn khác Hiện tại, chưa có công trình nghiên cứu cách hệ thống, toàn diện truyện ngắn từ sau 1975 đến chiến tranh Tiểu kết Đã có nhiều công trình, viết bốn mươi năm qua bàn lí luận truyện ngắn, văn xuôi, truyện ngắn chiến tranh xu đổi chung văn học Các viết chủ yếu bàn đến vài khía cạnh điểm qua vài nét đặc điểm truyện ngắn sau 1975 chiến vấn đề để ngỏ, gợi mở cho lựa chọn đề tài Truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 viết chiến tranh CHƯƠNG 2 HIỆN THỰC CHIẾN TRANH VỚI NHỮNG HƯỚNG TIẾP CẬN MỚI Sự đổi quan niệm nghệ thuật thực người Sự thay đổi quan niệm nghệ thuật cảm hứng sáng tác Sau 1975, với đổi tư duy, quan niệm thực thay đổi Hiện thực chiến tranh hậu nhìn nhận cách toàn diện sâu sắc Quan niệm nghệ thuật người ngày toàn diện, dần chuyển từ người công dân, trị sang người cá thể khai thác nhiều bình hứng lãng mạn dần thay cảm hứng nhân bản, nhân văn Chiều sâu thể tâm hồn người khai thác với trí tuệ, tư tưởng, tình cảm, năng, ý thức vô thức, tâm linh Điểm bật truyện ngắn chiến tranh thời gian khắc hoạ hình tượng người lính từ hai chiến tuyến Từ khuynh hướng sử thi chuyển sang khuynh hướng sự, đời tư Giai đoạn kháng chiến 1945-1975 Việt Nam thời điểm đặc biệt sản sinh nuôi dưỡng văn học sử thi Thành công khuynh hướng sáng tác kết tinh thành truyện ngắn làm bật chân dung anh hùng, người ưu tú cộng đồng với lý tưởng chung Sau năm 1975, nhà văn không hướng đến vấn đề lịch sử trị mà khai phá mảng thực đặt sống thời bình Văn học đương đại Việt Nam chiến tranh thiên khai phá mặt khuất lấp, vấn đề đời tư - sự, hướng đến sống đa trị qua thể cảm quan nhà văn Khám phá thực, người tính đa dạng, đa diện Biên độ thực chiến tranh mở rộng 10 CHƯƠNG 3 CÁC LOẠI HÌNH NHÂN VẬT CHỦ YẾU Loại hình học loại hình nhân vật văn học Loại hình học Phương pháp tiếp cận vấn đề văn học theo loại hình giúp khu biệt cách tương đối tượng mối quan hệ với hệ thống, tổng thể, từ đưa nhận định theo nhóm có chung đặc điểm Với vấn đề nhân vật truyện ngắn chiến tranh, chọn hướng tiếp cận cách thức để đưa kiến giải kiểu nhân vật truyện ngắn đương đại chiến tranh Cách phân loại nhân vật theo loại hình Tuỳ theo tiêu chí phân loại khác mà tìm thấy loại nhân vật có tương đồng mặt Trong truyện ngắn sau 1975 chiến tranh, giới nhân vật phong phú đa dạng Chúng chọn cách phân loại nhân vật dựa tiêu chí vai trò nhân vật tác phẩm kết hợp với tiêu chí giới tính, lứa tuổi, mức độ ảnh hưởng chiến tranh họ Từ luận án tập trung khảo sát số kiểu loại nhân vật chủ yếu khắc hoạ đậm nét truyện ngắn chiến tranh đương đại Các loại hình nhân vật tiêu biểu truyện ngắn sau 1975 viết chiến tranh Thế giới nhân vật truyện ngắn chiến tranh Trong truyện ngắn sau 1975 chiến tranh, viết chiến tranh kết thúc, có nhiều nhân vật lứa tuổi, giới tính người sống hoà bình, thường ngày Họ không tham gia chiến tranh mà xuất truyện với tư cách người kể chuyện, nhân vật phụ làm bối cảnh cho tuyến truyện 13 Trong khuôn khổ đề tài, chọn sâu khảo sát hai kiểu nhân vật tiểu biểu người lính người phụ nữ Họ thường nhân vật chính, nhân vật trung tâm tác phẩm Nhân vật người lính Nhân vật đa diện Trong truyện ngắn chiến tranh đương đại, người lính khắc hoạ đa chiều với cá tính riêng, số phận đời tư, nhiều gương mặt khác bên người Đó Trí Hai người trở lại trung đoàn – Thái Bá Lợi , vị tướng Ai biết mộ liệt sĩ đâu? - Văn Chinh, Lâm Truyền thuyết Quán Tiên - Xuân Thiều Không sản phẩm tinh thần lý tưởng hoá cao độ, họ lên với sai lầm, thiên kiến cá nhân, khoảnh khắc hèn nhát, lấn át lí trí Việc nhà văn “đặc tả” người nhiều chiều kích cách khách quan dẫn đến xuất nhân vật “lưỡng diện”, “đa trị” văn học nói chung truyện ngắn chiến tranh nói riêng Nhân vật tự ý thức - Ý thức hoàn cảnh Người lính xây dựng tâm tự ý thức cảnh ngộ để sống vượt lên nghịch cảnh sau chiến tranh Dù gặp mát, thiệt thòi hình tượng người lính đem đến cho người đọc khâm phục, cảm động họ biết vượt qua bi kịch cá nhân để khẳng định phẩm chất- lí tưởng sống Đó Lực Cỏ lau- Nguyễn Minh Châu, “anh” Đêm nguyệt thựcTrung Trung Đỉnh, Thao Miền cỏ hoang- Trần Thanh Hà Kiểu nhân vật chiếm số lượng lớn, sản phẩm tất yếu đổi tư nghệ thuật - Ý thức sai lầm để tự thú, sám hối 14 Tự ý thức trạng thái tinh thần để người chiêm nghiệm, suy ngẫm lại hành động Phần lớn họ người lính bên chiến tuyến chúng trình bày phần sau Bên cạnh đó, có nhân vật tự thú người lính cách mạng “người khách” Hồn cát - Nguyễn Hiệp, Lực Cỏ lau hoạ sĩ Bức tranh Nguyễn Minh Châu Xây dựng nhân vật thể nhạy cảm nhà văn trạng thái tâm lí đầy ám ảnh người sau chiến tranh, dù ai, đứng vị trí Nhân vật cô đơn Bên cạnh đối lập với kiểu nhân vật vượt lên nghịch cảnh nhân vật không dung hoà với sống sau chiến tranh Mang theo điều từ chiến tranh, nhiều người rơi vào trạng thái cô đơn, lạc lõng cộng đồngvà thời Đó tướng Thuấn Tướng hưu- Nguyễn Huy Thiệp, Châu Bóng ma đói quê hương- Vũ Bão, Mộc Trại “Bảy lùn”- Bảo Ninh Môtip người lính cô đơn trở thành mẫu hình phổ biến văn học sau 1975, làm phong phú tranh chân dung người lính Họ phản chiếu đời sống sau chiến tranh Nhân vật tha hoá Cùng với đổi tư nhu cầu “nói thật”, hình tượng người bị tha hóa xuất nhiều văn học nói chung truyện ngắn chiến tranh nói riêng Bởi chiến tranh không nơi khẳng định anh hùng mà nơi phân biệt kẻ hèn nhát, phản bội, nhỏ nhen Sự biến chất, tha hoá vấn đề khai thác tiểu thuyết truyện ngắn vấn nạn cần phê phán cảnh giác Đó Sức Anh Sức- Khuất Quang Thụy, Quang Cơn giông-Nguyễn Minh Châu, Lê Mãnh Nanh sấu- Sương Nguyệt Minh 15 Người anh hùng, người lính góc nhìn nhà văn trở nên chân thực, sinh động hơn, gần với đặc tính cố hữu người, chiều thánh thiện Nhân vật người lính bên chiến tuyến Cùng với thay đổi quan niệm đề tài chiến tranh, người, văn học có nhìn khách quan dành cho người phía “đối phương” Họ công cụ kẻ xâm lược chiến, bị hủy diệt lúc toan tính nhà cầm quyền, nhiều người bị xô đẩy vào chiến rơi vào bi kịch Đó Phúc Thời tiết ký ức- Bảo Ninh, John Smith Chú lùn thứ bảy- Lưu Sơn Minh, Huỳnh Phấn Đất ấm- Đỗ Văn Nhâm Nhân vật người lính “bên kia” phác hoạ với vẻ đẹp nhân Dù phải làm nhiệm vụ hàng ngũ địch họ có cảm xúc, tình cảm, lòng trắc ẩn người bình thường Đó Benla Cây số 42- Dũng Hà, Xơn Ông Ba Rạch Đùng- Dương Đức Khánh Hệ thống nhân vật phản chiếu tư “nhận thức lại lịch sử” cách khách quan, bao dung, nhân văn tiếp cận đề tài chiến tranh Vì vậy, họ “điền vào” vào khoảng trống mà giai đoạn trước truyện ngắn để ngỏ Nhân vật người phụ nữ Nhân vật phụ nữ thuỷ chung chờ đợi Môtip nhân vật phụ nữ thuỷ chung chờ đợi xuất nhiều truyện ngắn chiến tranh từ sau 1975 Điểm chung họ chờ đợi thời gian dài, chí nửa đời người, họ giữ mối chung tình với người xa dù chưa lời thề nguyền hẹn ước Đó Ân Mật Hai người đàn bà xóm trại Nguyễn Quang Thiều, cô gái làng chiến khu Giếng – Lê Tuấn Hiển, Hai Mật Trên mái nhà người phụ nữ - Dạ Ngân Họ tạo thành hệ thống nhân vật “ vọng phu” nhiều dáng vẻ, điển hình 16 cho nhân cách, phẩm chất, cách ứng phó với sống sau chiến tranh không phụ nữ Việt Nam Nhân vật phụ nữ với bi kịch chiến tranh Truyện ngắn sau 1975 chiến tranh tiếp cận người số phận cá nhân, người phụ nữ mang bi kịch con, trở thành người đàn bà goá bụa chịu thương tật di chứng chiến tranh,không làm mẹ Đó người bà Nắng chiều- Thụy Anh, bà cụ Lăng Bến trần gian- Lưu Sơn Minh , mẹ Chuyện xưa kết đi, chưa?- Bảo Ninh Họ tô đậm đức tính hi sinh, tình cảm sâu nặng, nghị lực kiên cường yếu đuối giới nữ Kiểu nhân vật gắn với cảm hứng bi kịch, tinh thần dân chủ, nhìn thẳng vào thật, truyện ngắn tiếp cận người góc độ mát, bất hạnh sống tác động chiến tranh Tuổi trẻ, nhan sắc, sức sống hao mòn thời gian chiến tranh với nếp sống tình cảm, chi phối dư luận cộng đồng khiến họ gặp nhiều trắc trở tình duyên nhiều người chí sống đơn độc phần đời lại Con người mang theo khuyết thiếu, vết thương tâm hồn, tình cảm vấn đề lớn sau chiến tranh Nhân vật phụ nữ tha hoá Trong cách tiếp cận thực người đa diện, người phụ nữ khắc hoạ bị chiến tranh kéo dài đẩy vào tình cảnh éo le, trở thành người bội bạc, chung chạ với nhiều người Kiểu nhân vật văn học giai đoạn trước Tuy nhiên, nhìn truyện ngắn thời kỳ với họ thường bao dung họ nạn nhân chiến tranh, nhiều hoàn cảnh, họ có khát khao đỗi thường tình người Đó nhân vật vợ Quang Rửa tay gác kiếm- Bảo Ninh, Diệu Nương Gió dại- Bảo Ninh, Diễm Thuý Đỉnh khói- Nguyễn Thị Kim Hòa, Thoải Thím Thoải- Hạnh Lê 17 Soi chiếu qua thân phận người phụ nữ, truyện ngắn sau 1975 hướng đến tận góc khuất thầm kín, khát vọng năng, vấp ngã đời thường Bên cạnh đó, họ toát lên đặc trưng nếp nghĩ, phẩm chất người phụ nữ Việt Nam truyền thống Tiểu kết Nhân vật truyện ngắn chiến tranh đương đại thêm vào chân dung, kiểu loại gắn với nhìn từ hoà bình Nhân vật người lính thời kỳ tập trung thể với tinh thần khách quan, nhân Viết đa dạng tính cách, chấn thương, bi kịch kết lối tư nghệ thuật Điều nghĩa phủ nhận kiểu nhân vật người lính anh hùng giai đoạn trước mà bổ sung, làm đầy đủ loại nhân vật Bên cạnh đó, nhân vật phụ nữ đối tượng đặc biệt quan tâm văn học nói chung truyện ngắn chiến tranh nói riêng Nhìn từ hoà bình, chân dung họ lên với tổn thương đầy khắc khoải nhược điểm mang tính bảo thủ người phụ nữ định kiến xã hội Việt Nam Họ đáng trân trọng, cảm thông chiến tranh qua để lại người phụ nữ với bi kịch lớn gia đình trọn vẹn CHƯƠNG 4 NHỮNG PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT 18 ĐẶC SẮC Tổ chức cốt truyện Khái niệm cốt truyện vai trò cốt truyện truyện ngắn Một số loại hình cốt truyện tiêu biểu Cốt truyện kiện - hành động Loại cốt truyện trọng yếu tố “có chuyện”,biến cố, kiện, hành động nhân vật phát triển tạo nên vận động cốt truyện Tuy nhiên, truyện ngắn chiến tranh đương đại, dù truyện triển khai kiện, hành động chủ yếu đan xen chi tiết, tình tiết lạ, bất ngờ, biến cố liên tục tạo độ căng cho truyện, trình tự kiện bị đảo lộn không thiết trình bày theo trật tự trước sau truyện truyền thống Đồng thời, nhà văn sử dụng yếu tố kỳ ảo, giấc mơ, tâm linh đan xen, kiểu truyện “giả thể loại” để biểu cảm nhận người đại đời sống sau chiến tranh Nhiều truyện có kiểu cốt truyện như Kẻ sát nhân lương thiệnLại Văn Long Còn, Mười ba bến nước Sương Nguyệt Minh, Hai mươi năm sau Hồ Phương Cốt truyện tâm lý Sau năm 1975, kiểu cốt truyện chiếm tỉ lệ lớn truyện ngắn, hướng đến giới thực khó định hình nắm bắt tâm hồn người Sự kiện nhắc đến truyện không nhiều từ “mắc treo” ấy, tác giả làm hành trình xâm nhập, giãi bày trạng cảm xúc diễn tâm hồn nhân vật trước hoàn cảnh, khám phá người chiều sâu vô thức tâm linh sau chiến tranh Đây kiểu cốt truyện Bức chân dung người đàn bà lạ Chu Lai, Dòng sông trinh nữ 19 Sương Nguyệt Minh, Mỗi tháng có rằm Lê Hoài Lương Tiếp thu kiểu cốt truyện trữ tình, nhà văn đương đại vận dụng cách nhuần nhuyễn tinh tế nhìn hướng số phận cá nhân người sau chiến tranh Cốt truyện dòng ý thức bước phát triển cốt truyện tâm lý Trong truyện ngắn chiến tranh đương đại, loại cốt truyện chưa đạt đến mức “điển hình” xuất số tác giả sử dụng phương tiện tìm kiếm nhận thức mẻ, sâu sắc giới bên người Có thể gặp kiểu cốt truyện Sám hối Phùng Văn Khai, Bến đàn bà Nguyễn Mạnh Hùng, Hoài vọng Văn Xương Xu hướng tự hoá cốt truyện Trong văn xuôi đương đại, người ta nói đến “lỏng lẻo”, “thu nhỏ” cốt truyện, nhà văn không tuân theo nguyên tắc truyền thống để xây dựng cốt truyện Một loại cốt truyện xuất không nhiều thể nghiệm mẻ nhà văn viết chiến tranh, cốt truyện mang yếu tố hậu đại Chú lùn thứ bảy, Bến trần gian, Âm kí ức Quan niệm văn học đương đại hướng đến “hiện thực không hoàn kết”, biết trước Vì vậy, truyện ngắn chiến tranh có xu hướng chuyển đổi từ cách kết thúc đóng sang kết thúc mở hậu, tạo bất ngờ, để lại nhiều dư âm, gợi mở Việc tổ chức truyện ngắn với cốt truyện, đoạn kết cách sáng tạo, độc đáo đem lại nhiều cách cảm nhận đề tài chiến tranh, phù hợp với cảm thức đời sống đại Nghệ thuật tạo dựng tình truyện Vai trò tình truyện ngắn Một số tình tiêu biểu Tình bi kịch 20 Kiểu tình bao hàm xung đột đời sống mang tính kịch cao, va chạm nhân vật trở nên gay gắt bị dồn nén không gian, thời gian hành động theo quy tắc kịch Tình bi kịch cho thấy bất lực người trước hoàn cảnh, khốc liệt chiến tranh chi phối, ảnh hưởng dai dẳng đến đời người góp phần thể nhìn mẻ nhà văn chiến tranh lịch sử sang trang Dạng tình thường gặp cốt truyện hành động, kiện- tâm lý Cỏ lau Nguyễn Minh Châu, Ba người sân ga Hữu Phương, Tiếng chuông trôi sông Vũ Hồng Tình tâm trạng Đó kiện đặc biệt đời sống mà nhân vật rơi vào tình làm nảy sinh biến động giới tình cảm Dạng thức tình sử dụng với mật độ cao truyện ngắn chiến tranh đương đại nhìn trước đề tài không thiên tính kiện, thời sự, cổ vũ kháng chiến mà dõi theo diễn biến phức tạp số phận người Nhà văn thường từ kiện khơi nguồn cho mạch tâm trạng, điều ẩn sâu tiềm thức người lên rõ nét Mỗi tháng có rằm Lê Hoài Lương, Thảm cỏ trời Ngô Thị Kim Cúc, Chị dâu Hoàng Tuấn chứa đựng tình Tình tâm lý truyện nhiều khó nhận biết lại gây hiệu ứng cảm xúc mạnh với độc giả Vì tạo nên truyện ngắn giàu chất thơ, giới tâm hồn, tâm linh bí ẩn người bộc lộ Tình tự ý thức Thông thường, kiểu tình cốt truyện tâm lý, kiện- tâm lý cốt truyện luận đề Tình tạo dựng với xung đột gay gắt đặt nhân vật vào buộc phải suy ngẫm, 21 tự nhìn nhận lại, điều chỉnh quan niệm sống, hành vi đấu tranh nhận thức để vươn đến hoàn thiện Có thể thấy tình nhiều truyện Vở nhạc kịch dâng mẹ Trầm Hương, Tiếng vạc sành Phạm Trung Khâu, Truyện khó viết Nguyễn Đông Thức Sự phân loại có tính chất tương đối viêc nhận diện dựa vào trội yếu tố để xác định tác phẩm truyện ngắn có tình truyện Đổi phương thức trần thuật Người kể chuyện thứ ba với điểm nhìn khách quan Đặc điểm phương thức người kể chuyện toàn tri diễn biến câu chuyện số phận nhân vật Trong truyện ngắn Việt Nam đương đại đề tài chiến tranh, hình thức kể chuyện từ thứ ba sử dụng phổ biến Nét truyện ngắn chiến tranh đương đại xu hướng hạn chế “quyền năng” người kể chuyện, sử dụng điểm nhìn bên ngoài, cách kể khách quan, lạnh lùng, lãnh đạm Trận gió màu xanh rêu Võ Thị Hảo, Bến trần gian Lưu Sơn, Loay xoay thuyền thúng Lê Nguyên Ngữ Người kể truyện thứ với điểm nhìn bên Người kể chuyện thứ gắn với điểm nhìn hướng nội, điểm nhìn bên nhằm bộc lộ giới nội tâm đầy bề bộn, trắc ẩn sau chiến tranh Theo lý thuyết G Genette, khảo sát truyện ngắn chiến tranh đương đại với dạng thức trần thuật từ thứ với điểm nhìn bên trongcó thể chia thành hai loại người kể chuyện kể tất chuyện nhiều người kể chuyện kể lại câu chuyện Kiểu trần thuật chiếm tỉ lệ lớn, thấy nhiều truyện ngắn như Chiều vô danh Hoàng Dân, 22 Người vãi linh hồn Vũ Bão, Anh Sức Khuất Quang Thụy, Hồn cát Nguyễn Hiệp Bên cạnh hai kiểu trần thuật trên, truyện ngắn chiến tranh đương đại có xu hướng trần thuật phối hợp kể, di động điểm nhìn Từ góp phần làm đa dạng phương thức trần thuật, hạn chế tính chủ quan, đơn điệu lối kể truyền thống Ngôn ngữ giọng điệu Ngôn ngữ Ngôn ngữ giàu chất thực, đời thường, phương ngữ Việc sử dụng ngôn ngữ giàu tính thực, giản dị cho phù hợp với hướng khai tác sống góc nhìn đời tư, số phận cá nhân mối quan hệ phức tạp sau chiến tranh Trong xu hướng kéo ngôn ngữ gần với thực đời sống, nhiều truyện ngắn chiến tranh đương đại sử dụng phương ngữ cách thức chuyển tải trọn vẹn câu chuyện số phận người gắn với vùng miền họ sinh thực, đời thườngcòn thể ngôn ngữ mang thở sống đương đại Ngôn ngữ đậm chất triết lý, trữ tình Sau chiến tranh, truyện ngắn phát vấn đề thực chiều sâu triết học nhu cầu chiêm nghiệm trước sống dẫn đến giảm ngôn ngữ kể, tả, tăng ngôn ngữ bình luận, phân tích Vì vậy, truyện ngắn tăng cường sử dụng từ ngữ mang sắc thái triết lí, suy tư Cùng với đó, ngôn ngữ trữ tình trải nghiệm, trầm lắng viết sống sau chiến tranh đầy điều phức tạp, bộn bề Ngôn ngữ mang tính đối thoại 23 Tinh thần đối thoại trước vấn đề chiến tranh hậu chiến cụ thể hoá qua ngôn ngữ Trong ngôn ngữ truyện ngắn chiến tranh không đối thoại nhân vật mà tranh biện quan điểm, tư tưởng phát ngôn họ Điều thấy truyện ngắn giai đoạn trước Ngôn ngữ truyện ngắn chiến tranh đương đại bồi đắp, tinh lọc để đem đến cho độc giả đương đại thông điệp sâu sắc kháng chiến trường kỳ dân tộc kỷ XX Giọng điệu Trong văn học trước năm 1975, tư sử thi cảm hứng lãng mạn tạo nên giọng điệu trang trọng, ngợi ca, châm biếm, nghiên cứu trang nghiêm Sau 1975, đặc biệt từ thời kì Đổi mới, giọng điệu tác phẩm biến đổi đa âm, đa thanh, phù hợp với trạng thái thực Đây hệ thay đổi quan niệm sáng tác, nghệ thuật trần thuật xây dựng nhân vật Tiểu kết Trong truyện ngắn Việt Nam đương đại nói chung,sự cách tân nghệthuật sở bảo lưu “mã di truyền” thể loại Yếu tố thi pháp truyền thống thể loại kế thừa cách tân cho phù hợp với môi trường văn hoá tầm đón đợi độc giả đương đại Truyện ngắn thể loại khác có vận động, đổi sâu sắc mặt nội dung, kiếm tìm thể nghiệm hình thức biểu đạt mẻ Điều dần kiến tạo sắc diện cho truyện ngắn đương đại 24 KẾT LUẬN Từ sau 1975 đến nay, truyện ngắn chiến tranh mạch chảy dòng chung văn học dân kế thừa mang tính sáng tạocủa truyện ngắn đề tài cho thấysự tác động mạnh mẽ thực đời sống xã hội, sách mở cửa hội nhập với văn chương Cùng với tiểu thuyết, truyện ngắn chiến tranh nỗ lực khai mở hướng tiếp cận với đề tài “muôn thuở ” thay đổi tư nghệ thuật cụ thể hoá truyện ngắn có nhìn khách quan đa chiều thực người, chi phối nội dung hình thức nghệ thuật truyện Sự mở rộng đường biên thực chiến tranh tinh thần nhân nhân vănđưa tác phẩm đến gần với văn chương giới đề tài cạnh đó, sử dụng yếu tố kỳ ảo, giấc mơ để dẫn dắt độc giả khám phá giới tâm linh, tiềm thức, vô thức người chịu tác động chiến tranh đem lại màu sắc mới, hấp dẫn độc giả đương đại Có thể nói, truyện ngắn phản chiếu lăng kính tư tưởng bổ sung thêm cách nhìn, cách viết hệ trưởng thành sau chiến tranh Ứng dụng cách tiếp cận theo loại hình, giới nhân vật truyện ngắn chiến tranh đương đại chia thành hai loại người lính người phụ nữ Trong đó, phân chia thành tiểu loại nhỏ để từ có lý giải, cắt nghĩa diện kiểu nhân vật nhân vật sáng tạo với tinh thần khách quan, nhân văn, nhiều loại có mẫu số chung với nhân vật văn học đương đại nói chung Tuy vậy, loại hình chứa đựng ý nghĩa, đặc trưng riêng họ người sau chiến tranh Vẫn hai loại nhân vật phổ biến văn học chiến tranh sau 1975 xây dựng với quan niệm nghệ thuật mẻ vật người lính không đơn phiến, dễ đoán biết 25 truyện ngắn trước 1975 mà xuất với trạng thái đa trị, lưỡng diện Họ khắc hoạ không với phẩm chất làm nên chiến thắng mà mặt trái, nét tính cách đời thường, tha hoá sau chiến tranh Người lính lên với mát, hi sinh, bi kịch, thiệt thòi bước khỏi chiến tranh Đó điều truyện ngắn giai đoạn trước Tuy vậy, nhân vật bi kịchvẫn khẳng định phẩm chất, lĩnh kiên cường họ ứng phó với sống hoà cạnh đó, loại nhân vật tự thú, sám hối xuất ngày nhiều thể tâm thức người thời hậu chiến Người lính phía bên chiến tuyến thể truyện ngắn đương đại cách khách quan, bao dung nhân văn phác hoạ nhân vật với vẻ đẹp nhân với đó, nhân vật người phụ nữ xuất với bi kịch, dang dở, bất hạnh chiến với giai đoạn trước, họ nạn nhân chiến tranh thân chịu đựng, đức hi sinh, thuỷ chung vô bờ bến nên nỗi cô đơn, bất hạnh họ trở nên ám ảnh dù chiến tranh qua lâu Trong truyện ngắn chiến tranh đương đại xuất ngày nhiều nhân vật phụ nữ bị chiến tranh xô đẩy thành kẻ bội bạc, lang chạ- kiểu nhân vật truyện ngắn thời chiến Người phụ nữ quan tâm khát vọng năng, vấp ngã, sai lầm đời thường Họ thường khắc hoạ với cảm thông, bao dung, đời sống nội tâm phức tạpchứ không đơn chiều giai đoạn đặc trưng thể loại, truyện ngắn “chớp lấy” khoảnh khắc “loé sáng” đời nhân vật, kiểu loại nhân vật truyện ngắn chiến tranh đương đại mang diện mạo khác, góp phần phản ánh đầy đủ tác động chiến tranh đến số phận người Quan sát truyện ngắn chiến tranh đương đại từ yếu tố thuộc đặc trưng thể loại, thấy kế thừa thành tựu tổ chức nghệ thuật truyện truyền thống Tuy vậy, truyện ngắn chiến tranh đương đại có vận dụng linh hoạt sáng tạo, tiếp thu xu hướng nghệ thuật văn chương giới Truyện ngắn chiến 26 tranh thể nỗ lực làm kiểu cốt truyện tình sử dụng thành công lịch sử truyện ngắn Việt Nam trước Một số xu hướng tổ chức cốt truyện tiêu biểu văn học giới kỉ XX như cốt truyện dòng ý thức, cốt truyện mờ nhạt, cốt truyện kiểu hậu đại sử dụng khai thác đề tài chiến tranh tạo Truyện thường sử dụng lối kết xu hướng mở, tình đơn giản “mời gọi” độc giả trải nghiệm đồng sáng tạo Điều thể linh hoạt, độ mở cấu trúc nghệ thuật truyện ngắn chiến tranh đương đại mở khả chiếm lĩnh thực bề sâu chiều rộng Trong nghệ thuật trần thuật truyện sử dụng lối kể đại, tạo nên cách tân mẻ, tiệm cận với xu hướng vận động thể loại văn học giới Người kể chuyện thứ ba với lối kể khách quan, dửng dưng; người kể truyện thứ với điểm nhìn bên liên tục có dịch chuyển điểm nhìn trần thuật tạo màu sắc mẻ cho người kể chuyện truyện ngắn chiến tranh Cũng phải ghi nhận vận động ngôn ngữ truyện ngắn chiến tranh theo hướng gần gũi với đời sống đương đại thấm đượm chất triết lý trữ tình Sử dụng ngày nhiều ngôn ngữ mang tính đối thoại phương diện khai thác đề tài chiến tranh Cùng với đó, giọng điệu đa thanh, biến hoá Bên cạnh giọng điệu trữ tình, triết lý tranh biện, đối thoại, ăn năn, sám hối Tất điều góp phần làm nên sắc diện cho truyện ngắn sau 1975 đến chiến tranh Nghiên cứu truyện ngắn chiến tranh cách thức tìm hiểu văn học Việt Nam đương đại Nếu truyện ngắn 1945-1975 truyện viếtvề thực chiến tranh tiếp diễn thìsau 1975 nối liền chiến tranh hoà bình với bao vấn đề để ngỏ cho tương lai Tìm hiểu truyện ngắn chiến tranh góp thêm góc nhìn gợi mở nghiên cứu văn học chiến tranh nói chung Từ tri nhận giá trị thẩm mỹ nhân văn mà văn học viết đề tài gây dựng 27 [...]... tuổi, mức độ ảnh hưởng của chiến tranh đối với họ Từ đó luận án tập trung khảo sát một số kiểu loại nhân vật chủ yếu được khắc hoạ đậm nét trong truyện ngắn chiến tranh đương đại Các loại hình nhân vật tiêu biểu trong truyện ngắn sau 1975 viết về chiến tranh Thế giới nhân vật trong truyện ngắn chiến tranh Trong truyện ngắn sau 1975 về chiến tranh, viết về chiến tranh khi nó đã kết thúc, có... làm nên sắc diện mới cho truyện ngắn sau 1975 đến nay về chiến tranh Nghiên cứu truyện ngắn chiến tranh cũng là một cách thức tìm hiểu văn học Việt Nam đương đại Nếu truyện ngắn 1945 -1975 là truyện viếtvề hiện thực chiến tranh đang tiếp diễn th sau 1975 là sự nối liền giữa chiến tranh và hoà bình với bao vấn đề còn để ngỏ cho hiện tại và tương lai Tìm hiểu truyện ngắn chiến tranh sẽ góp thêm một góc... thế của người viết đương thời, biên độ hiện thực chiến tranh được mở rộng Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ tiếp tục được phản ánh Cùng với đó, sự xuất hiện của nhiều truyện ngắn viết về cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam, của quân tình nguyện Việt Nam ở Lào, Cămpuchia và biên giới phía Bắc những năm sau 1975 là sự bổ sung làm nới rộng biên độ hiện thực Hiện thực chiến tranh được biểu... vấn đề nhân vật trong truyện ngắn chiến tranh, chúng tôi chọn hướng tiếp cận này như một cách thức để đưa ra những kiến giải về các kiểu nhân vật trong truyện ngắn đương đại về chiến tranh Cách phân loại nhân vật theo loại hình Tuỳ theo tiêu chí phân loại khác nhau mà có thể tìm thấy những loại nhân vật có sự tương đồng về một mặt nào đó Trong truyện ngắn sau 1975 về chiến tranh, thế giới nhân... giấc mơ, tâm linh đan xen, kiểu truyện “giả thể loại” để biểu hiện cảm nhận của con người hiện đại về đời sống trong và sau chiến tranh Nhiều truyện có kiểu cốt truyện này như Kẻ sát nhân lương thiệnLại Văn Long Còn, Mười ba bến nước Sương Nguyệt Minh, Hai mươi năm sau Hồ Phương Cốt truyện tâm lý Sau năm 1975, kiểu cốt truyện này chiếm tỉ lệ lớn trong truyện ngắn, hướng đến thế giới hiện... thống Tuy vậy, truyện ngắn chiến tranh đương đại có sự vận dụng linh hoạt và sáng tạo, tiếp thu những xu hướng nghệ thuật của văn chương thế giới Truyện ngắn chiến 26 tranh thể hiện sự nỗ lực làm mới các kiểu cốt truyện và tình huống đã được sử dụng thành công trong lịch sử truyện ngắn Việt Nam trước đây Một số xu hướng tổ chức cốt truyện tiêu biểu trong văn học thế giới thế kỉ XX như cốt truyện dòng... Nguyễn Quang Thiều, cô gái ở làng chiến khu Giếng trong – Lê Tuấn Hiển, Hai Mật Trên mái nhà người phụ nữ - Dạ Ngân Họ tạo thành hệ thống nhân vật “ vọng phu” nhiều dáng vẻ, điển hình 16 cho nhân cách, phẩm chất, cách ứng phó với cuộc sống sau chiến tranh của không ít phụ nữ Việt Nam Nhân vật phụ nữ với bi kịch chiến tranh Truyện ngắn sau 1975 về chiến tranh tiếp cận con người ở số phận... phân tích Vì vậy, truyện ngắn tăng cường sử dụng các từ ngữ mang sắc thái triết lí, suy tư Cùng với đó, ngôn ngữ trữ tình trải nghiệm, trầm lắng khi viết về cuộc sống sau chiến tranh đầy những điều phức tạp, bộn bề Ngôn ngữ mang tính đối thoại 23 Tinh thần đối thoại trước những vấn đề của chiến tranh và hậu chiến được cụ thể hoá qua ngôn ngữ Trong ngôn ngữ truyện ngắn chiến tranh không chỉ là... của độc giả đương đại Truyện ngắn cũng như các thể loại khác đã có sự vận động, đổi mới sâu sắc về mặt nội dung, kiếm tìm và thể nghiệm hình thức biểu đạt mới mẻ Điều đó dần kiến tạo sắc diện mới cho truyện ngắn đương đại 24 KẾT LUẬN Từ sau 1975 đến nay, truyện ngắn về chiến tranh vẫn là một mạch chảy trong dòng chung của văn học dân kế thừa mang tính sáng tạocủa truyện ngắn đề tài này cho thấysự... đường khác nhau mở rộng đường biên phản ánh hiện thực Đề tài chiến tranh khi nhìn từ thời bình không còn giới hạn trong phạm vi hẹp cả về tư tưởng và trường phản ánh Vì vậy, từ sau 1986, đặc biệt là những năm 90, truyện ngắn chiến tranh “nở rộ” với sự phong phú về số lượng, đa dạng về phong cách, mới mẻ và khách quan trong xử lý chất liệu chiến tranh Hiện thực và con người dần hiện lên với bề rộng và chiều - Xem thêm -Xem thêm Truyện ngắn việt nam sau năm 1975 viết về chiến tranh, Truyện ngắn việt nam sau năm 1975 viết về chiến tranh, Ngày đăng 09/11/2012, 1055 Truyện ngắn việt nam giai đoạn 1975-1985 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Thái Nguyên, 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985 Chuyên ngành Văn học Việt Nam Mã số 60 22 34 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS. TS PHAN TRỌNG THƯỞNG Thái Nguyên, 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Lời cảm ơn Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn - Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên. - Các thầy cô giáo ở Viện Văn học, trường Đại học Sư phạm I Hà Nội, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội đã trực tiếp giảng dậy trong suốt khoá học. Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó giáo sư - Tiến sĩ Phan Trọng Thưởng, người thầy đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều để luận văn có thể hoàn thành. Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trường THPT Trần Quốc Tuấn Nam Định đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Tác giả luận văn Nguyễn Thị Minh Nguyệt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Mục lục Phần mở đầu 1. Lí do chọn đề tài 1 2. Lịch sử vấn đề 3 Những bài nghiên cứu, những ý kiến về những vấn đề khái quát của truyện ngắn sau 1975 . 3 Những bài nghiên cứu về tác giả 7 Những bài viết về tác phẩm 8 3. Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu 9 nhiệm vụ nghiên cứu . 9 Đối tượng nghiên cứu 9 4. Phương pháp nghiên cứu . 10 5. Đóng góp của luận văn 10 6. Cấu trúc của luận văn 10 Phần nội dung Chương I Bối cảnh lịch sử và diện mạo truyện ngắn Việt nam 1975- 1985 1. Bối cảnh lịch sử, xã hội 12 Tình hình đất nước sau chiến tranh .12 Thống nhất về mặt nhà nước, khôi phục kinh tế, bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội . 13 Đấu tranh bảo vệ Tổ quốc . 14 2. Tình hình phát triển của văn xuôi . 15 3. Diện mạo của truyện ngắn 19 Chuyển đổi trong quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người . 19 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Sự tiếp nối của những thế hệ nhà văn tài năng .35 Thành tựu của truyện ngắn 37 Những thay đổi về đề tài và cảm hứng trong truyện ngắn việt nam 1975-1985 1. Những thay đổi về đề tài ở truyện ngắn sau 1975 . . 41 Sự tiếp tục đề tài chiến tranh 41 . Sự xuất hiện và chiếm lĩnh của đề tài thế sự, đời tư . 51 2. Sự chuyển đổi cảm hứng nghệ thuật trong truyện ngắn 1975- 1985 . 62 Chuyển đổi từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự, đời tư 63 Cảm hứng đạo đức giữ vị trí quan trọng . 65 Sự trở lại của cảm hứng bi kịch . . 69 cảm hứng phê phán 71 Cảm hứng nhân văn .72 Chương III Những đổi mới bước đầu trong nghệ thuật truyện ngắn việt nam 1975-1985 1. Đặc điểm kết cấu cốt truyện .75 Khái niệm và vai trò của cốt truyện 75 Sự vận động trong việc xây dựng cốt truyện của truyện ngắn sau 1975 76 Các đặc điểm kết cấu cốt truyện . 80 2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn 1975-1985 87 Các kiểu nhân vật mới . 89 . Những đổi mới bước đầu trong nghệ thuật xây dựng nhân vật . 96 3. Nghệ thuật trần thuật .103 Sự đa dạng về điểm nhìn trần thuật 103 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Sự đa thanh trong giọng điệu trần thuật . 107 Phần kết luận 110 Tài liệu tham khảo 113 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1 Phần mở đầu 1. Lí do chọn đề tài 5 khẳng định thì giai đoạn sau 1975, đặc biệt từ đầu những năm 80 là thời kỳ chuẩn bị tích cực, là bước khởi động tạo đà cần thiết cho công cuộc đổi mới văn học. Có thể coi văn học giai đoạn 1975 -1985 là thời kỳ tiền trạm cho cái mới. Chính vì vậy, khi tìm hiểu tiến trình đổi mới của văn xuôi nói chung, truyện ngắn nói riêng không thể không tìm hiểu bước đầu xây nền đắp móng trong giai đoạn tiền đổi mới. Dẫu đó là sự chuẩn bị âm thầm nhưng rất tích cực và cần thiết, là bước tạo đà cho quá trình đổi mới văn học hôm ngắn không phải là thể loại duy nhất nhưng lại tập trung nhiều nhất những yếu tố của một nền văn học đang đổi mới như văn học Việt Nam sau đại thắng mùa xuân năm 1975. Chính những điều đó đã giúp tôi lựa chọn đề tài Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975- 1985. 2. Lịch sử vấn đề. Những bài nghiên cứu, những ý kiến về những vấn đề khái quát của truyện ngắn sau 1975. Trong bài “Một số vấn đề cơ bản trong nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam từ sau 1975” Văn học Việt Nam sau 1975- Những vấn đề nghiên cứu và giảng dậy, Nxb Giáo dục, 2006, tác giả Nguyễn Văn Long nhận xét Từ 1975- 1985 là chặng đường chuyển tiếp từ văn học sử thi thời chiến tranh sang văn học thời hậu chiến. Tính chất chuyển tiếp này thể hiện rõ ở cả đề tài, cảm hứng, các phương tiện nghệ thuật và cả quy luật vận động của văn học. Những tác phẩm văn xuôi giai đoạn này đã giúp thu hẹp bớt khoảng cách khá xa giữa văn học với đời sống, tác phẩm và công chúng, đồng thời cũng là sự chuẩn bị tích cực cho những chuyển biến mạnh mẽ của văn học khi bước vào thời kỳ đổi mới. Có thể coi đó là một nhận xét khái quát về đặc điểm của văn xuôi giai đoạn 1975- 1985, trong đó có truyện ngắn. Một thể loại luôn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2 luôn có mặt nhiều, khi lại nhận lãnh trách nhiệm dò lối, mở đường Vương Trí Nhàn ở những giai đoạn lịch sử nhiều biến động. Đi sâu vào những vấn đề của thể loại truyện ngắn ở giai đoạn này, có nhiều ý kiến đánh giá trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Những năm liền ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, nền văn học cơ bản vẫn tiếp tục phát triển theo quán tính từ trong thời kỳ chiến tranh. Đề tài về chiến tranh và người lính vẫn bao trùm lên hầu hết các sáng nhiên, trong truyện ngắn và cả truyện vừa thấy rõ nét một hướng đi vào những khoảnh khắc thưòng nhật của chiến tranh, đi sâu hơn vào diễn biến tâm lý của nhân vật, vào những cảnh ngộ và xung đột nội tâm truyện ngắn cũng có ưu thế trong việc đặt nhân vật trong mối tương quan hôm qua và hôm nay, để làm nổi bật lên những vấn đề có ý nghĩa đạo đức nhân sinh Nguyễn Văn Long, “Văn xuôi những năm 1975-1985 viết về cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ”- Văn nghệ quân đội, tháng 4-1985. Cùng quan điểm với nhận định trên, tác giả Phan Cự Đệ trong văn học Việt nam 1975 -1985, Tác phẩm và dư luận, Nxb Hội nhà văn, 1997 cho rằng cách khai thác những vấn đề chiến tranh trong mối tương quan quá khứ - hiện tại như thế làm cho truyện ngắn của ta sau 1975 có một bước phát triển mới, ngày càng hiện đại hơn, đáp ứng nhu cầu bạn đọc ngày càng tốt hơn. Bởi nó không dừng lại ở trực giác mà đi sâu vào tâm lý, tiềm thức. Nhà văn Nguyên Ngọc còn khẳng định vai trò hàng đầu của truyện ngắn trong quá trình tìm tòi thầm lặng mà quyết liệt của văn học giai đoạn này. Theo Nguyên Ngọc, truyện ngắn hiện nay đang vượt qua tiểu thuyết. Nó sớm đạt đến tính khách quan xã hội cao hơn, nó đi thẳng vào vấn đề thân phận con người, thế giới bên trong của con người, ý nghĩa nhân sinh, lẽ sống, con người ở đời sâu và sắc hơn “Văn xuôi sau 1975 - thử thăm dò đôi nét về quy luật phát triển”, Tạp chí văn học số 4 -1991. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3 Đó cũng là nhận xét của nhà nghiên cứu Nguyễn Tuấn Anh khi ghi nhận công lao của truyện ngắn trong thời kỳ đầu của quá trình đổi mới văn học. Truyện ngắn mở ra những mũi thăm dò, khai thác và đặt ra nhiều vấn đề đạo đức thế sự nhanh chóng đạt đến một độ chín cả trong hình thức và nội dung mà tiểu thuyết còn chưa kịp đạt đến “Văn học Việt Nam hiện đại - Nhận thức và thẩm định”, Nxb Khoa học xã hội, 2001. Thật ra, nhận định của hai tác giả về vai trò hàng đầu của truyện ngắn chỉ đúng trong tình hình văn học ở giai đoạn đầu những năm 80 khi văn học thực sự bước vào giai đoạn đổi mới. Điều này cũng được tác giả Phạm Mạnh Hùng thừa nhận trong cuốn sách “ Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XX” Nxb Đại học quốc gia Hà nội, H, 1999 Truyện ngắn vẫn xuất hiện đều đặn trong các báo, tạp chí văn nghệ trong Nam ngoài Bắc với một số lượng không nhỏ. Trong khoảng 5 năm đầu của thời kỳ hoà bình, truyện ngắn vẫn tiếp tục những đề tài và chủ đề, phong cách, bút pháp và các giọng điệu như đã thấy trong văn học trước đó. Nhưng từ những năm 80 bắt đầu xuất hiện nhiều truyện ngắn có dấu hiệu mới về tư tưởng, về nghệ thuật. Theo tác giả, cái mới trong những truyện ngắn này là việc đi vào những đề tài mới của cuộc sống sau chiến tranh, hay vẫn viết về chiến tranh nhưng với cách nhìn mới với những mối quan tâm, suy tư, trăn trở mới. Số phận con người trong cuộc sống được chú ý khai thác ở góc độ không chỉ ở cái phi thường mà còn ở cả cái bình thường. Xu thế mới này ở truyện ngắn giai đoạn 1975 - 1985 được tác giả Bùi Việt Thắng khẳng định và lý giải truyện ngắn sau 1975 tập trung nghiên cứu hiện trạng tinh thần xã hội sau chiến tranh - đó là hiện trạng phức tạp và đa dạng đan xen các mặt tích cực và tiêu cực. Tính chất phức tạp của đời sống tinh thần xã hội là kết quả tất yếu của hậu quả chiến tranh, của đời sống kinh tế khó khăn, của sự xâm nhập các trào lưu tư tưởng từ bên ngoài vào. Nhìn chung các nhà văn đã dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, không né tránh và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4 viết về sự thật. Chuyện đời thường vì thế nổi trội trong đa số truyện ngắn trong giai đoạn này, thậm chí đã hình thành một quan niệm văn học đời thường “Truyện ngắn - những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại”, Nxb Đại học quốc gia Hà nội, 2000. Về hình thức truyện ngắn 1975 - 1985 cũng có rất nhiều ý kiến. Tuy nhiên, mỗi ý kiến bước đầu đưa ra sự đánh giá về một hay một vài phương diện nghệ thuật. Tác giả Bích Thu trong bài “Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975” Tạp chí Văn học tháng 9 - 1996 cho rằng trong một thời gian không dài truyện ngắn đã làm được nhiều vấn đề mà tiểu thuyết chưa kịp làm, đã tạo ra nhiều phong cách sáng tạo có giọng điệu riêng. Xét trong hệ thống chung của các loại hình văn xuôi, nghệ thuật truyện ngắn đã đạt được những thành tựu đáng kể trong nghệ thuật xây dựng cốt truyện, trong cách nhìn nghệ thuật về con người và trong sáng tạo ngôn từ. Theo tác giả, truyện ngắn có xu hướng tự nới mở, đa dạng hơn trong cách thức diễn đạt… Có sự tác động, hoà trộn giữa ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ người kể truyện. Lý giải về những thay đổi này, theo tác giả là do những biến động khác nhau trong đời sống xã hội, yêu cầu của thời đại, tính chất phức tạp của cuộc sống, sự đa dạng của tính cách con người, thị hiếu thẩm mỹ của công chúng đòi hỏi nhà văn phải tìm tòi những phương thức thể hiện nghệ thuật tương ứng với một thời kỳ đang chuyển biến. Chính những nhu cầu mới của con người khiến các thể loại của văn học có sự vận động và phát triển mà trong đó truyện ngắn có vai trò quan trọng, là loại hình nghệ thuật đáp ứng nhanh nhậy những chuyển biến của văn học từ thời chiến sang thời bình khi quy luật chiến tranh đã hết hiệu lực. Tác giả Nguyễn Văn Long “Văn học việt nam sau 1975. Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy”. Nxb Giáo dục. H. 2006 khi đi sâu vào nghệ thuật trần thuật khẳng định từ bỏ sự áp đặt một quan điểm được cho là đúng đắn nhất vì đó là quan điểm của cộng đồng, ngày nay người viết có thể đưa ra [...]... lịch sử và diện mạo truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975- 1985 Chương II Những thay đổi về đề tài và cảm hứng trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975- 1985 Chương III Những đổi mới bước đầu về nghệ thuật truyện ngắn 19751985 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9 Phần nội dung Chương I Bối cảnh lịch sử và diện mạo truyện ngắn Việt nam 1975 - 1985 1 Bối cảnh... đầu của truyện ngắn giai đoạn 1975- 1985 trong quan hệ thống nhất giữa nội dung và hình thức biểu hiện Từ đó thấy được sự vận động của truyện ngắn sau chiến tranh trong bức tranh chung của truyện ngắn hiện đại Đối tượng nghiên cứu Luận văn tập trung khảo sát các truyện ngắn trong giai đoạn từ 19751985 Tuy vậy, truyện ngắn thực sự thay đổi là từ những năm 1980 trở đi Hơn nữa số lượng truyện ngắn trong... luận án đã có, chúng tôi thấy nhìn chung việc nghiên cứu truyện ngắn giai đoạn sau 1975 đã lật xới lên được nhiều vấn đề Đã có những công trình nghiên cứu sâu sắc về một số vấn đề như tác giả, tác phẩm tiêu biểu cụ thể nhưng chủ yếu nghiêng hẳn về giai đoạn từ sau 1986, giai đoạn phát triển rực rỡ của truyện ngắn Còn với truyện ngắn ở giai đoạn 1975- 1985, các ý kiến đánh giá chủ yếu ở dạng phác thảo... hợp của câu chữ Truyện ngắn - nỗi run sợ”,Tạp chí Văn nghệ quân đội, Tháng 7,1992 Nhìn một cách tổng thể, truyện ngắn giai đoạn 1975 -1985 có xu hướng vươn tới sự khái quát, triết luận về đời sống, kể ít tả nhiều và sử dụng nhiều hình thức khác nhau để tái tạo đời thế, truyện ngắn ở giai đoạn tiền đổi mới này như một khúc chảy mạnh mẽ, tạo nên dòng chảy liên tục của truyện ngắn dân tộc suốt... cứu một cách cụ thể sâu sắc những đặc điểm của truyện ngắn ở giai đoạn phôi thai của tiến trình đổi mới Trên tinh thần tiếp thu ý kiến của những nhà nghiên cứu đi trước đã gợi ý cho chúng tôi lựa chọn đề tài Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975- 1985 Trong luận văn này, chúng tôi sẽ đặt trọng tâm nghiên cứu vào việc khảo sát những dấu hiệu mới của truyện ngắn nói riêng đặt trong tiến trình phát triển... của truyện ngắn giai đoạn 1975- 1985 trong cái nhìn tổng thể và toàn diện Hy vọng luận văn sẽ góp phần vào việc nhìn nhận quá trình vận động của thể loại truyện ngắn trong đời sống văn học và là bước tạo đà, gợi mở cho việc nghiên cứu truyện ngắn ở những giai đoạn sau 6 Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn chia làm ba chương Chương I Bối cảnh lịch sử và diện mạo truyện. .. giai đoạn sau Những bài viết về tác phẩm Trong khoảng 10 năm từ 1975 đến 1985 số lượng truyện ngắn in trên các báo quả là không nhỏ ở đây chúng tôi chỉ điểm qua tình hình nghiên cứu một số tác phẩm được giải trên các tạp chí, các tập truyện có tác động không nhỏ đến diện mạo văn học giai đoạn này hoặc đánh dấu sự đổi mới trong sự nghiệp của các cây bút viết truyện ngắn Có thể kể đến các tập truyện. .. những truyện ngắn của một số tác giả đã định hình và có thể xem là tiêu biểu cho xu hướng đổi mới; những truyện ngắn được giải thưởng trong các cuộc thi ở các báo trung ương, những tập truyện ngắn có tiếng vang hoặc gây dư luận trong quần chúng Tuy nhiên đó cũng chỉ là sự khoanh vùng có tính chất tương đối để luận văn có thể tập trung hơn vào những vấn đề đổi mới của truyện ngắn trong một giai đoạn. .. loại, truyện ngắn đã chưng cất những mảng hiện thực của cuộc sống chiến tranh Mặc dù phần lớn truyện ngắn giai đoạn 1975 - 1985 viết về chiến tranh vẫn bám vào các sự kiện, vẫn lấy sự kiện làm trục chính song cách triển khai vấn đề ở những truyện ngắn này cũng không hoàn toàn giống trước Những hoàn cảnh ngặt nghèo, những khúc bi thương nhất của chiến trận vẫn được khắc hoạ đậm nét trong nhiều truyện ngắn ... xuôi nói riêng bao gồm nhiều vấn đề có mối quan hệ chặt chẽ với nhau ở đây chúng tôi chỉ đi vào lĩnh vực sáng tác của văn xuôi trong giai đoạn 1975 - 1985 để từ đó có được cái nhìn khách quan, tổng thể về diện mạo của truyện ngắn trong giai đoạn này Với dân tộc Việt Nam, dấu mốc 1975 đánh dấu sự sang trang của lịch sử đất nước chuyển từ thời chiến sang thời bình, từ cuộc sống với những quy luật không . nhưng chủ yếu nghiêng hẳn về giai đoạn từ sau 1986, giai đoạn phát triển rực rỡ của truyện ngắn. Còn với truyện ngắn ở giai đoạn 1975- 1985, các ý kiến. truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975- 1985. Chương II Những thay đổi về đề tài và cảm hứng trong truyện ngắn Việt Nam - Xem thêm -Xem thêm Truyện ngắn việt nam giai đoạn 1975-1985, Truyện ngắn việt nam giai đoạn 1975-1985, , Lí do chọn đề tài, Những bài viết về tác phẩm, Phương pháp nghiên cứu Đóng góp của luận văn Cấu trúc của luận văn, Sự tiếp nối của những thế hệ nhà văn tài năng, .Thành tựu của truyện ngắn, Sự tiếp tục đề tài chiến tranh, Sự xuất hiện và chiếm lĩnh của đề tài thế sự, đời tư, Chuyển đổi từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự, đời tư, Cảm hứng đạo đức thế sự giữ vị trí quan trọng, Sự trở lại của cảm hứng bi kịch, Cảm hứng phê phán, Xu hướng lắp ghép liên văn bản, Vai trò của biến cố trong diễn biến cốt truyện, Đặc điểm của đoạn kết trong cấu trúc truyện, Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật, Nghệ thuật miêu tả nhân vật trong những chiều thời gian khác nhau, Sự đa dạng về điểm nhìn trần thuật

truyện ngắn việt nam sau 1975