truyện ngắn sau 1975

Sau ngày đất nước thống nhất, nhiều bài viết và công trình nghiên cứu được công bố hoặc ít hoặc nhiều có đề cập đến truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 - 1975, nhưng đều thống nhất ở sự khẳng định vị trí quan trọng của bộ phận văn học này. Chẳng NGỮ VĂN - LỚP 12 | ÔN TẬP TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI (1945-1975) - TIẾT 1 | HỌC TRÊN TRUYỀN HÌNH Có phải bạn đang tìm hiểu đúng không? Nếu đúng như vậy thì mời bạn xem nó ngay tại đây. Xem thêm các video thú vị tại Truyện ngắn Xem các video […] vật trong truyện ngắn Lê Minh Khuê sau năm 1975 để thấy đƣợc cái nhìn toàn diện về con ngƣời thời hậu chiến và mối tƣơng quan giữa quá khứ chiến tranh với hiện tại nhằm rút ra những nhận thức chân thực, cần thiết cho hôm nay. 1.2. Evay Vay Tiền. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ******** PHẠM VĂN DŨNG ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU SAU 1975 NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THI PHÁP CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM MÃ SỐ 60 22 34 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học PGS -TS PHẠM THÀNH HƯNG Hà Nội - 2010 MỤC LỤC Trang PHẦN MỞ ĐẦU 1 do chọn đề tài 1 sử vấn đề 3 3. Mục đích nghiên cứu 9 4. Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu 10 5. Cấu trúc luận văn 11 PHẦN NỘI DUNG 12 Chương I 12 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN MINH CHÂU Minh Châu - người mở đường tinh anh cho một giai đoạn 12 văn học mới Minh Châu - cây bút của mọi miền hậu phương - tiền 12 tuyến Khát vọng đổi mới của Nguyễn Minh Châu trong yêu cầu đổi mới 14 chung của văn học và thời đại Đổi mới là một yêu cầu tất yếu của Văn học Việt Nam sau năm 14 1975 Khát vọng đổi mới của nhà văn Nguyễn Minh Châu 16 Sáng tác Nguyễn Minh Châu thời kỳ chống Mĩ 18 Những đột phá quả cảm trên con đường đổi mới tư duy nghệ 18 thuật Những quan niệm mới về con người 18 Từ ý thức về con người cộng đồng tới ý thức về con người cá nhân 22 thế sự Con người chủ thể lịch sử hay nạn nhân của lịch sử cùng với 25 những khát vọng sống và mưu cầu hạnh phúc Chương II 34 NGHỆ THUẬT KẾT CẤU VÀ XÂY DỰNG TÌNH HUỐNG Nghệ thuật tổ chức cốt truyện 34 kiểu cốt truyện trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu 34 Kết cấu sự kiện 34 Kết cấu tâm lý 35 Truyện không có cốt truyện 37 Phối hợp nhiều kiểu kết cấu cốt truyện 39 Tổ chức sự kiện 41 chức một sự kiện duy nhất 41 Tổ chức mối tương quan giữa các sự kiện 42 Cách sắp xếp các thành phần cốt truyện 49 Nghệ thuật xây dựng tình huống 53 Tình huống nghịch lý 54 Tình huống tâm lý 54 Tình huống ngẫu nhiên 57 Quan hệ giữa nhân vật và hoàn cảnh 58 Hệ thống nhân vật xây dựng trong quan hệ đối chiếu tương 59 phản Hệ thống nhân vật được xây dựng trong mối quan hệ bổ sung 65 Hệ thống nhân vật được xây dựng trong mối quan hệ với nghịch 69 lý Định nghĩa về nghịch lí 69 thống nhân vật được xây dựng trong mối quan hệ với những 70 nghịch lí trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 Hệ thống nhân vật xây dựng trong mối quan hệ với biểu tượng 83 Số phận nhân vật phản chiếu qua biểu tượng 85 Nội tâm và góc khuất tâm linh nhân vật biểu đạt qua biểu tượng 87 Chương III 91 NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC KHÔNG GIAN - THỜI GIAN VÀ LỰA CHỌN GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT Tổ chức không gian nghệ thuật 91 Tổ chức không gian trong sự đối lập 92 Tổ chức không gian tư tưởng, không gian tâm lý, không gian 97 văn hoá thẫm mỹ Tổ chức không gian đời thường mang ý nghĩa nhân sinh 101 Tổ chức không gian với nhiều hình thức biểu tượng 102 Tổ chức thời gian nghệ thuật 105 Tổ chức theo trình tự thời gian 106 gian theo trật tự tuyến tính 106 Đảo trật tự thời gian 108 Tổ chức các lớp thời gian 110 Tổ chức thời gian đồng hiện 110 chức các mối liên kết thời gian 112 Tổ chức thời gian ảo, thời gian viễn tưởng 115 Mở rộng thời gian nghệ thuật 117 điệu trần thuật 118 hình thức trần thuật 118 Trần thuật từ ngôi thứ ba 118 thuật từ ngôi thứ nhất 120 Cách tổ chức điểm nhìn trần thuật 123 Sử dụng một điểm nhìn trần thuật 123 Phối hợp các điểm nhìn 126 Tổ chức giọng điệu trần thuật 131 PHẦN KẾT LUẬN 138 thật tổ chức hình tuợng có nhiều đặc sắc, cách tân 138 2. Nghệ thuật tổ chức cốt truyện và những cách tân so với truyền 139 thống 3. Nghệ thuật trần thuật có bước vận động mới với những cách tân cụ thể 140 MỞ ĐẦU do chọn đề tài Đã hai mươi mốt năm nhà văn Nguyễn Minh Châu vĩnh biệt chúng ta, vĩnh biệt cuộc đời mà ông nặng lòng yêu quý. Nhưng một đời người - một đời văn khắc khoải “ Một niềm tin pha lẫn lo âu ” đối với con người của ông chắc sẽ còn để lại những dấu ấn khó phai nhạt trong lòng những người yêu văn chương. Sáng tác của ông đã được ghi nhận như một dấu son chói sáng trên con đường đổi mới và phát triển của văn học Việt Nam hiện đại. Trước năm 1975 Nguyễn Minh Châu được biết đến và yêu mến qua những trang viết về một hiện thực kháng chiến hào hùng, mang đậm chất sử thi. Tác phẩm của ông được xem như những bước tượng đài ngôn từ tráng lệ về sức mạnh và vẻ đẹp của dân tộc trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Trong các tác phẩm của ông, ý thức cộng đồng bao trùm tất cả, tình yêu Tổ quốc là hệ quy chiếu duy nhất và cao cả để định giá mọi quan hệ từ gia đình cho đến xã hội, mọi tình cảm từ riêng chung của con người. Trong hoàn cảnh chiến tranh lúc này rất cần sự đồng lòng, đồng chí cao độ. Điều đó như một tất yếu lịch sử. Hoà mình vào dòng chảy mãnh liệt của lịch sử thời đại chống Mĩ, những trang viết của Nguyễn Minh Châu đã hoàn thành sứ mệnh văn chương của mình. Đất nước thống nhất giang sơn thu về một mối, kết thúc cuộc đấu tranh giành quyền sống của dân tộc chúng ta bước vào một cuộc đấu tranh cho quyền sống của mỗi con người. Trong cuộc đấu tranh lâu dài giữa đời thường tưởng như giản đơn ấy, bao vấn đề nhân sinh đã đặt ra cho con người nói chung, mỗi nhà văn như Nguyễn Minh Châu nói riêng những trăn trở và buộc họ phải tự đổi mới mình cho phù hợp với yêu cầu của thời đại. Văn học sử thi dần dần bộc lộ những sơ lược, công thức, khó đáp ứng được với cuộc sống mới với bao phức tạp, bức xúc bôn bề. Với sự trăn trở của một ngòi bút có lương tâm và trách nhiệm Nguyễn Minh Châu đã âm thầm lặng lẽ tìm hướng đi, tự đổi mới chính mình, với những truyện ngắn mang tính luận đề, và sau 1 đó là một loạt truyện ngắn đậm chất đời tư - thế sự, khám phá con người và hiện thực ở nhiều chiều đa dạng phong phú, với những đổi mới và cách tân nghệ thuật. Không nằm ngoài những khai phá khác, những đổi mới ấy không lập tức được chấp nhận và ghi nhận, đôi lúc trở thành những tranh luận mang tính diễn đàn. Hàng loạt những bài phê bình xuất hiện, khen có, chê có về truyện ngắn của ông, thậm chí báo Văn nghệ đã phải tổ chức cả một cuộc hội thảo để lật các mặt của vấn đề nhằm tìm ra chân lí. Qua nghiên cứu, đánh giá ở nhiều góc độ, phương diện khác nhau của các nhà nghiên cứu, phê bình, bạn đọc… đặc biệt qua sức sống mãnh liệt của những truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trong thời gian cho đến nay ta vẫn thấy rõ giá trị và vị trí mở đường " tinh anh và tài năng " Nguyên Ngọc đã được khẳng định chắc chắn. Đó là những thành tựu không chỉ của nhà văn mà còn là của cả nền văn học hiện đại Việt Nam trong chặng đường đổi mới văn học. Đánh giá về các tác phẩm của mình Nguyễn Minh Châu đã từng nhận " Mình viết văn suốt đời tràng giang đại hải, có khi chỉ còn lại vài cái truyện ngắn ". Với hi vọng nhỏ nhoi muốn góp một phần vào sự hoàn thiện trong nghiên cứu truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu và sự nghiệp văn học của ông nói chung, tôi quyết định chọn đề tài " Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 nhìn từ góc độ thi pháp " để nghiên cứu. Đồng thời qua đó, tôi mong muốn được góp phần tìm hiểu sự vận động của quá trình văn học trong giai đoạn thời kì đổi mới, tìm hiểu thêm một số vấn đề về nghệ thuật truyện ngắn nhìn từ góc độ thi pháp học, một vấn đề đang được xem là trung tâm của tự sự học hiện đại. Thực hiện đề tài này, chúng tôi hy vọng luận văn của mình có ý nghĩa giúp mình mở rộng kiến văn, từ đó sẽ giảng dạy có hiệu quả hơn, đáp ứng được một cách tốt hơn những yêu cầu giáo dục trong thời kỳ mới. sử vấn đề 2 Nguyễn Minh Châu là một nhà văn đã để lại nhiều dấu ấn đặc sắc trong lịch sử văn học nước nhà. Cho đến nay đã có hàng trăm bài viết , hàng chục công trình nghiên cứu lớn nhỏ đề cập đến nhiều khía cạnh về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn. Theo thư mục tài liệu nghiên cứu tác giả, tác phẩm Nguyễn Minh Châu do TS Nguyễn Trọng Hoàng và Nguyễn Đức Khuông biên soạn năm 2002, số lượng bài viết về Nguyễn Minh Châu đã lên đến con số 150. Đó là chưa kể đến các luận án Tiến sĩ, luận văn thạc sĩ về Nguyễn Minh Châu của các nghiên cứu sinh, học viên cao học qua nhiều thế hệ. Các bài viết ấy đã được tập hợp , tuyển chọn và giới thiệu trong các cuốn Kỷ yếu hội thảo 5 năm ngay mất Nguyễn Minh châu - Hội văn nghệ Nghệ An ,1995; Nguyễn Minh Châu - con người và tác phẩm [ 3 ]; Nguyễn Minh Châu - về tác giả và tác phẩm [ 21 ]. Trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, truyện ngắn nhất là những truyện viết sau năm 1975 - là mảng sáng tác thu hút được sự chú ý đặc biệt và gây nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu phê bình và đông đảo công chúng, mà một trong những lý do là bởi sự cách tân nghệ thuật của nó. Cuộc " Trao đổi về những truyện ngắn những năm gần đây của Nguyễn Minh Châu " [42 ] đã chứng tỏ sức thu hút rộng rãi ấy. Tuy gây ra nhiều ý kiến trái chiều , song qua thời gian những tìm tòi mở đường của Nguyễn Minh Châu nhanh chóng được khẳng định. Truyện ngắn của ông dần dà được mặc nhiên thừa nhận , ngày càng có vị trí vững vàng trong công chúng văn học, trở thành đối tượng cho những sự phân tích kỹ lưỡng , thấu đáo và khoa học. Cùng với sự ra đời của các tập truyện "Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê"... đặc biệt là tập truyện cuối " Cỏ Lau" là sự xuất hiện của hàng loạt bài viết phân tích thành công cũng như hạn chế của Nguyễn Minh Châu trong các tập truyện đó mà chủ yếu là đánh giá cao những thành tựu thể hiện sự vận động đổi mới trong tư duy nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật về con người , phương thức thể hiện ... Có thể kể đến một số bài viết nổi bật của Lại Nguyên Ân [ 3,201-208 ], Ngô Thảo [ 51 ], Huỳnh Như Phương [ 3,164 -170 ],Trần Đình 3 Sử [ 46 ], Hoàng Ngọc Hiến [ 17 ], Đỗ Đức Hiểu [ 18 ], Lã Nguyên Tùng [ 37 ], Nguyễn Văn Hạnh [ 14 ], Chu Văn Sơn [45], Lê Văn Tùng [ 57 ]... Về nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, tuy chưa có một công trình nào nghiên cứu xem xét một cách toàn diện , trực tiếp đặc điểm truyện ngắn nhìn từ góc độ thi pháp, song về các yếu tố liên quan đến nghệ thuật truyện ngắn hoặc là những phương diện của nghệ thuật truyện ngắn như nhân vật, cốt truyện , tình huống, nghệ thuật trần thuật ... thì đã có một số bài viết và công trình đề cập đến. Xem xét nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Ngô Thảo có cùng quan điểm với Nguyễn Thị Minh Thái sau này , cho rằng nhân vật gây được chú ý hơn cả trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu là nhân vật nữ, những người phụ nữ đi qua chiến tranh. Tác giả đánh giá " Nguyễn Minh Châu đã bộc lộ thế mạnh của một cây bút có khả năng phân tích và thể hiện được những biến động tâm lý khá phức tạp của một con người không đơn giản" [ 51 ]. Phạm Vĩnh Cư lại tìm thấy trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu những nhân vật tiểu thuyết đích thực Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát Một con người nhiều chiều, một tính cách vừa mâu thuẫn vừa thuần toàn, vừa cá biệt vừa tiêu biểu, vừa là quá khứ của lịch sử tối tămvừa toả ánh sáng của nhân tính vĩnh hằng của những giá trị đạo đức muôn đời [ 11 ] Nguyễn Tri Nguyên nêu lên một kiểu nhân vật mới xuất hiện trong nhiều sáng tác sau 1975 của Nguyễn Minh Châu Kiểu nhân vật hướng nội [ 38]. Trong một công trình nghiên cứu khá đầy đủ về Nguyễn Minh Châu, Tôn Phương Lan đã phân loại nhân vật trong sáng tác Nguyễn Minh Châu thành hai loại nhân vật đặc trưng nhất thể hiện được phong cách nghệ thuật của nhà văn nhân vật tư tưởng và nhân vật tính cách - số phận. Tác giả đã nhận xét " Nếu trước những năm 80 , Nguyễn Minh Châu chủ yếu chỉ xây dựng dạng nhân vật loại hình thì càng về sau , ngòi bút của ông đã vươn tới 4 sự khắc hoạ nên các dạng nhân vật tư tưởng , nhân vật tính cách - những nhân vật có số phận riêng so với cộng đồng ". Đây là những nhân vật " được xây dựng theo một quan niệm nghệ thuật nhằm tạo ra khả năng thể hiện đời sống với chiều sâu nhất định, vừa mang thông điệp của tác giả , lại vừa tồn tại một cách khách quan như những "Con - người - này"; và hệ thống những nhân vật đó "đa dạng , đông đảo " trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu. Tôn Phương Lan cũng rút ra những thủ pháp trong xây dựng nhân vật của nhà văn miêu tả tâm lý, sử dụng đọc thoại nội tâm cùng yếu tố ngoại hình và tên gọi. Theo tác giả, quá trình tái hiện " Con người trong con người " đó là quá trình đổi mới tư duy nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu và " một trong những phương diện đặc sắc thể hiện phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu chính là nhân vật " [ 30 ] Cũng nhận diện về các kiểu loại nhân vật trong truyện ngắn sau năm 1975 của Nguyễn Minh Châu, Trịnh Thu Tuyết phân chia thành các loại nhân vật nhân vật tư tưởng, nhân vật tính cách , nhân vật thế sự, nhân vật số phận [ 58]. Đồng thời tác giả chỉ ra qúa trình vận động và đổi mới thế giới nhân vật của Nguyễn Minh Châu từ các nhân vật lí tưởng đến những nhân vật đa chức năng phản ánh cuộc sống đời tư, thế sự như đã kể trên. Trịnh Thu Tuyết cũng đã khẳng định những đóng góp nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu trong xây dựng nhân vật thể hiện qua các biện pháp dùng độc thoại nội tâm, chi tiết miêu tả tâm lý xác thực, miêu tả ngoại hình sinh động [ 59 ]... Nhìn chung các bài viết, công trình nghiên cứu kể trên chủ yếu đi vào tìm hiểu các kiểu loại nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, song chưa xem xét nghệ thuật tổ chức nhân vật trong các mối quan hệ cụ thể để kết cấu nên hình tượng nhân vật trong các tác phẩm của ông nói chung và trong truyện ngắn nói riêng . Về cốt truyện trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu , Trịnh Thu Tuyết đã nhận diện và phân tích khá rõ ba kiểu cốt truyện trong truyện ngắn sau 1975 của nhà văn Cốt truyện luận đề, cốt truyện sinh hoạt - thế sự, cốt truyện 5 đời tư. Qua đó tác giả đã chỉ ra sự vận động đổi mới trong phương diện kết cấu tác phẩm của Nguyễn Minh Châu là sự vận động từ những cốt truyện có hành động bên ngoài chiếm ưu thế đến những cốt truyện chủ yếu dựa vào sự vận đông tâm lý, cảm xúc bên trong. Từ đó Trịnh Thu Tuyết đã đi đến kết luận " Các sáng tác sau năm 1975 cuả Nguyễn Minh Châu đều thuộc kiểu cốt truyện không biến cố, không có những xung đột khép kín dựa vào diễn biến sự kiện . Cốt truyện được nới lỏng, chủ yếu dựa trên những xung đột tâm lý chồng chéo không mở đầu, không có cao trào, cũng không kết thúc , tựa dòng chảy " Tự nhiên, nhi nhiên " của cuộc sống vốn luôn tồn tại cùng những mâu thuẫn, những xung đột vĩnh cửu"[59,140]. Trịnh Thu Tuyết cũng khẳng định tuy đó không phải là kiểu cốt truyện mới mẻ trong lịch sử văn học nhân loại, song những đóng góp của Nguyến Minh Châu trong đổi mới cốt truyện mở rộng khả năng phản ánh hiện thực, làm giảm bớt tính loại biệt ước lệ và sự giản cách của nội dung nghệ thuật với hiện thực đời sống đã góp phần đưa văn học về gần hơn với cuộc đời, con người [ 59]. Bên cạnh những công trình nghiên cứu của Trịnh Thu tuyết, còn có một số ý kiến rãi rác đề cập đến cốt truyện trong các bài viết về Nguyễn Minh Châu của các nhà nghiên cứu phê bình khác. Chẳng hạn như Ngọc Trai có nhận xét khái quát " Phần lớn các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu là loại truyện luận đề những luận đề về đạo đức nhân văn, về tâm lý xã hội " [ 55 ]. Công trình nghiên cứu của Trịnh Thu Tuyết và một số ý kiến về cốt truyện nói trên chủ yếu đã nhận diện, phân chia các kiểu cốt truyện trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu dựa trên những đặc trưng nội dung , đề tài của nó, song chưa đi vào cách tổ chức sự kiện , các thành phần cốt truyện theo quan điểm nghệ thuật kết cấu. Cùng với nhân vật, cốt truyện, tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu cũng là một phương diện nghệ thuật được nhiều nhà nghiên cứu phê bình quan tâm và phân tích, đánh giá. Bùi Việt Thắng, trên quan điểm loại hình, đã nêu lên ba dạng tình huống cơ bản trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu tình huống - tương 6 phản; tình huống - thắt nút; tình huống - luận đề, từ đó rút ra bài học nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Minh Châu mối quan hệ đời sống - tình huống truyện là mối quan hệ biện chứng [58]. Trịnh Thu Tuyết đã nhận xét về tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trước năm 1975, Nguyễn Minh Châu đã tạo ra những tình huống thử thách bên ngoài để các nhân vật của ông có điều kiện phát huy những sức mạnh và vẻ đẹp tiềm ẩn vốn có của họ…Từ sau năm 1975, nhà văn chủ yếu tạo ra những tình huống tâm lý nhằm đưa nhân vật vào những cuộc đấu tranh nội tâm, những vận động tâm lý với những day dứt, sám hối hay chiêm nghiệm, nếm trải … Tác giả đã phân tích những dạng tình huống trong truyện ngắn sau năm 1975 của Nguyễn Minh Châu tình huống tự nhận thức, tình huống nghịch lý, tình huống bi kịch để làm rõ cho nhận thức trên [58]. Nghiên cứu phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, Tôn Phương Lan đã nêu rõ quan điểm coi việc tìm ra những dạng tình huống phổ biến trong sáng tác của ông là một thao tác để tìm hiểu sự “độc đáo , lặp lại và phát triển" trong quá trình tiếp cận đời sống hiện thực con người [30, 122]. Với quan điểm ấy, tác giả đi vào phân tích ba dạng tình huống trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu tình huống nhận thức, tình huống tương phản và tình huống thắt nút; từ đó đi đến nhận xét Sự tìm tòi của Nguyễn Minh Châu trong xây dựng tình huống diễn ra trên cả bề rộng lẫn bề sâu; đó cũng là một trong những phương diện thể hiện bản sắc riêng của Nguyễn Minh Châu [30]. Ngoài nhân vật, cốt truyện, tình huống, nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu cũng được xem xét ở nhiều yếu tố điểm nhìn, giọng điệu, nhịp điệu, ngôn ngữ trần thuật, Trịnh Thu Tuyết [58], Tôn Phương Lan [30] có sự phát hiện thống nhất về điểm nhìn trần thuật trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu trần thuật từ ngôi thứ ba Trần thuật “biết hết”, trần thuật khách thể và trần thuật từ ngôi thứ nhất. Trịnh Thu Tuyết có nhận xét chung “trong các sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975, tương quan giữa các nhân vật với chủ thể trần thuật hay nói khác đi là điểm 7 nhìn trần thuật được tác giả chọn lựa và xác định rất tinh tế, phù hợp với mỗi kiểu loại nhân vật và thể tài để mỗi hình thức trần thuật có thể phát huy cao nhất tác dụng nghệ thuật của nó.” [58,41]. Về giọng điệu trần thuật theo Tôn Phương Lan, giọng chủ âm trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu là giọng thâm trầm, trước 1980, giọng chủ âm này lẫn vào giọng trữ tình quen thuộc, còn sau 1980, nó được thể hiện dưới nhiều sắc thái cụ thể, với những mức độ khác nhau. Đặc biệt vào thời kỳ đầu những năm 80, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu có xu hướng đi vào triết lý, xu hướng này chi phối giọng điệu của truyện khá rõ [30].Từ góc độ nghệ thuật truyện ngắn, Trịnh Thu Tuyết đã nhận định “ Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 có sự thay đổi rõ nét trong giọng điệu trần thuật, tính chất độc thoại tôn kính của sử thi đã được thay bằng tính chất bình đẳng, đa thanh hết sức mới mẻ.”[58,47]. Tác giả đã phân tích tính chất này trong sáng tác của nhà văn qua hai thời kỳ trước và sau năm 1975. Sau này, Trịnh Thu Tuyết đã tổng hợp đầy đủ hơn quá trình vận động và đổi mới trong giọng điệu trần thuật của Nguyễn Minh Châu Từ giọng điệu trần thuật tôn kính đậm chất sử thi, đến giọng điệu trần thuật suồng xã đậm chất đời thường; từ tính đơn giọng độc thoại đến tính chất phức điệu, đa thanh [59]. Ngoài điểm nhìn, giọng điệu trần thuật, Tôn Phương Lan, Trịnh Thu Tuyết còn đi vào phân tích ngôn ngữ, nhịp điệu trần thuật trong sáng tác của Nguyễn Minh Phương Lan giới hạn việc xem xét giới hạn ngôn ngữ trong phạm vi hẹp cách sử dụng ngôn từ của ông trong việc miêu tả, trong khả năng đưa ngôn ngữ văn chương gần gũi với ngôn ngữ của đời sống tạo nên tính biểu cảm, biểu trưng nhằm nâng cấp nghệ thuật cho ngôn ngữ trong tác phẩm của mình. Tôn Phương Lan cho rằng ngôn ngữ trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu là thứ ngôn ngữ “ được tinh lọc “[30]. Còn Trịnh Thu Tuyết chỉ ra và phân tích nhịp điệu trần thuật phù hợp với mỗi loại thể tài, nhân vật của Nguyễn Minh Châu, khẳng định hiệu quả nghệ thuật của nó là 8 “tác động vào thế giới nội tâm của người đọc, buộc người đọc không chỉ “ chứng kiến “ câu chuyện sảy ra mà phải “can thiệp” bằng cách tìm hiểu suy ngẫm những vấn đề đặt ra trong tác phẩm…để cùng tác giả khám phá những bề sâu bí ẩn của cuộc sống, con người”[58,46]. Nhìn chung các bài viết và công trình nghiên cứu kể trên đã xem xét nhiều phương diện nghệ thuật truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu ở nhiều góc độ, bình diện khác nhau, và dù là phác thảo khái quát hay phân tích cụ thể ít nhiều đều đề cập đến những khía cạnh, những yếu tố hoặc phương diện nào đó của nghệ thuật truyện ngắn. Tuy nhiên, xem xét vấn đề này một cách toàn diện, trực tiếp, hệ thống theo quan điểm nghệ thuật là toàn bộ tổ chức nghệ thuật của tác phẩm thì thật sự chưa có một chuyên luận nào đi sâu nghiên cứu nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu. Ở luận văn này, tôi cố gắng khảo sát nhằm tìm hiểu nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Minh Châu ở góc độ thi pháp, từ đó góp phần làm rõ tư tưởng nghệ thuật cũng như tài năng độc đáo của của nhà văn mở đường “tinh anh và tài năng” này. Và thật sự, những bài viết và các công trình nghiên cứu kể trên đã là những gợi ý, tham khảo quý báu cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn. 3. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 nhìn từ góc độ thi pháp để thấy được những đổi mới, nét đặc sắc trong quan niệm nghệ thuật về con người - nơi thể hiện tập trung tư tưởng nhân bản sâu sắc của Nguyễn Minh Châu, cũng như tài năng nghệ thuật của tác giả trong các truyện cận truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu từ góc độ thi pháp cho thấy sự cách tân nghệ thuật mang tính chất mở đường của ông - mở ra những khả năng và hướng đi mới cho thể loại truyện ngắn trong nền văn xuôi đương đại. Nhìn chung, mục đích chính của luận văn là muốn khám phá những vẻ đẹp đặc sắc trong phong cách nghệ thuật, những giá trị đích thực của truyện 9 ngắn Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 và những đóng góp của tác giả cho sự đổi mới của nền văn xuôi Việt Nam. 4. Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là các yếu tố thi pháp trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 thể hiện qua các phương diện nghệ thuật tổ chức hình tượng không gian - thời gian, nhân vật; tổ chức cốt truyện, trần thuật. Luận văn khảo sát toàn bộ truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu đặc biệt là các tác phẩm sau năm 1975, vì đây là những sáng tác có giá trị nghệ thuật cao, thể hiện rõ sự trăn trở tìm tòi đổi mới, sự " Dũng cảm điềm đạm " của một cây bút tài hoa, giàu lương tâm và trách nhiệm, rất đỗi nhân hậu và nặng lòng với con người, cuộc sống. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài nghiên cứu này chúng tôi sử dụng linh hoạt và kết hợp các phương pháp sau Phương pháp thống kê, phân tích tác phẩm văn học dựa vào những đặc trưng thể loại. Truyện ngắn, loại tự sự. Phương pháp hệ thống luận văn khảo sát, phân tích các hiện tượng văn học như những bộ phận của một cấu trúc, những yếu tố của một hệ thống. Sử dụng các khái niệm công cụ của thi pháp học khi tiếp cận tác phẩm với góc độ nghiên cứu theo hướng thi pháp. Sử dụng phương pháp so sánh khi xem xét sự vận động của quá trình văn học, sự đổi mới trong sáng tác của tác giả thông qua những đặc điểm của truyện ngắn sau 1975. Sử dụng kết hợp linh hoạt một cách khoa học các phương pháp khác. 5. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung được trình bày trong ba chương Chương I. Quan niệm nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu 10 Chương II. Nghệ thuật kết cấu và xây dựng tình huống Chương III. Nghệ thuật tổ chức không gian - thời gian và lựa chọn giọng điệu trần thuật 11 Chương I QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN MINH CHÂU Minh Châu - người mở đường tinh anh cho một giai đoạn văn học mới Minh Châu - cây bút của mọi miền hậu phương - tiền tuyến Những người yêu mến văn học thường dành cho nhà văn Nguyễn Minh Châu một tên gọi vừa giản dị vừa gần gũi dễ thương nhà văn chiến sĩ. Một người chiến sĩ luôn hào mình vào mọi hoàn cảnh của đất nước và chọn cho mình một lẽ sống cao đẹp. Chính lí tưởng cao đẹp là điều mà cây bút dũng cảm của Nguyễn Minh Châu luôn hướng tới và thể hiện rõ trên từng trang viết. Cả cuộc đời của mình Nguyễn Minh Châu gắn bó với cách mạng và quần chúng nhân dân, vì vậy hơn ai hết, ông thiếu rõ cuộc sống của nhân dân với những tâm tư, tình cảm, ngay cả những biến động tinh vi và nhỏ nhất trong tâm hồn họ cũng được ông thấu hiểu, ông hiểu rõ cuộc sống của những người lính, của chiến tranh và cách mạng và đây cũng chính là mảnh đất nuôi dưỡng và bồi đắp tâm hồn ông. Sinh ra ở một vùng quê nghèo của miền trung gian khổ làng Thơi, xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Cuộc đời ông, ngay cả khi ông đã đi khắp mọi miền đất nước luôn vẫn chịu những ám ảnh bởi cái dữ dội, cái nghèo khó, hoang sơ của đất mẹ. Nhiều tác phẩm của ông đã thực sự gây xúc động với những trang viết nặng ân tình trong sự gắn bó máu thịt và am hiểu sâu sắc cho con người và quê hương. Cuộc đời của Nguyễn Minh Châu luôn gắn liền với nhiều sự kiện của cách mạng dân tộc và ở đâu, dù trong thời gian nào đi nữa ấn tượng lớn nhất về ông trong lòng người đọc chính là hình ảnh của một anh bộ đội cầm bút. Đó là những trang viết khi ông khoác trên mình chiếc ba lô, tham gia các cuộc chiến. Hay những tác phẩm là kết quả của những ngày đi thực tế, lăn lộn ở chiến trường của nhà văn trong những năm trước 1975. Nguyễn Minh Châu đã từng tâm sự “ Tôi có kinh nghiệm mỗi chuyến đi thực tế của mình chỉ cần có được cái may mắn và vinh dự, cuộc đời trao cho mình lấy một hai con 12 người như thế , họ đã sáng tác cho mình một nửa, làm hộ cái công việc nặng nhọc, vất vả cho mình một nửa, họ như cái vạch nối giữa đời sống và nhà văn ” [ 28,96 ]. Năm 1975 sau khi đất nước vừa giải phóng, với cuốn sổ ghi chép trên tay, ông có mặt ở nhiều nơi. Đất nước tuy hoà bình nhưng phải oằn mình đối mặt với những khó khăn và phức tạp mới, phải giải quyết những hậu quả của chiến tranh để lại trong đó có sự gắn liền và thống nhất hai miền. Năm 1977 tiểu thuyết Miền cháy ra đời đó là kết quả của một hành trình gian khổ của người lính trong thời chiến. Năm 1983, tập truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành ra đời. Trong một cuộc thảo luận với báo văn nghệ Nguyễn Minh Châu đã từng tâm sự “ Sau chiến tranh, tôi đã đi thực tế nhiều lần, gặp nhiều đồng chí chỉ huy và chiến sĩ cũ chuẩn bị cho một cuốn tiểu thuyết mà bối cảnh là cuộc chiến đấu anh hùng ở thành cổ Quảng Trị năm 1972. Nhưng khi bắt tay vào làm thì song song với những vấn đề chiến tranh chống Mỹ, cái “đời sống của họ hôm nay ” nó bắt tôi phải quan tâm. Chắc các đồng chí cũng thấy những biểu hiện của lối sống, đạo đức và thậm chí là cả quan niệm sống của những con người xung quanh ta - nhất là thanh niên - khiến chúng ta không thể không quan tâm và lo lắng ”. Trong sự nghiệp văn học của mình, Nguyễn Minh Châu đã dành nhiều trang viết của mình cho giải đất Miền Trung gian khổ và khối lửa. Đó là những cuộc sống, con người cụ thể trong mối quan hệ với làng xóm, quê hương, với vận mệnh đất nước, với thiên nhiên gần gũi ... một cách sống động. Ta bắt gặp cuộc sống và con người hiện lên với một nét riêng rất Nguyễn Minh Châu trong Mảnh đất tình yêu hay Phiên chợ Giát - tác phẩm được hoàn thành trên giường bệnh khi nhà văn đang phải chiến đấu với căn bệnh ung thư quái ác ở viện 108 - tác phẩm được Nguyên Ngọc đánh giá là " một tuyệt tác của văn học hiện đại ". 13 Nguyễn Minh Châu đã làm việc, đã viết, đã cống hiến cho đến giây phút cuối cùng của đời mình. Một con người suốt đời lao động và sáng tạo nghệ thuật. Cho đến những ngày cuối đời mình trên giường bệnh, nhà văn vẫn kê từng trang giấy trên gối để viết. Ông đã dốc hết cả hơi thở cuối cùng của mình cho các trang văn. Khát vọng đổi mới của Nguyễn Minh Châu trong yêu cầu đổi mới chung của văn học và thời đại Đổi mới là một yêu cầu tất yếu của Văn học Việt Nam sau năm 1975 Nếu như Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 tồn tại và phát triển trong hoàn cảnh chủ yếu là hai cuộc kháng chiến và gặp nhiều khó khăn trở ngại từ khâu sáng tác đến tiếp nhận, dẫn đến mang đậm tính chất của văn học thời chiến và nặng tính phiến diện trong việc phản ánh đời sống. Với việc quy các sự đa dạng, phức tạp của hiện thực đời sống vào những mô hình mang tính đơn giản, quy phạm, vào những hướng giải quyết có tính công thức, đề cao bút pháp hiện thực, tái hiện đời sống trong trạng thái thức giống như nó tồn tại, nhiều khi để mục đích phục vụ chính trị chi phối ít nhiều...đáp ứng được nhu cầu của lịch sử, tạo nên tác dụng to lớn trong việc thức tỉnh, động viên tuyên truyền thêm sức mạnh và niềm tin cho nhân dân...thì văn học thời kỳ sau năm 1975 lại có những đổi mới mang tính tất yếu. Trong những điều kiện mới của lịch sử - xã hội đất nước thống nhất, cuộc kháng chiến thắng lợi mở ra một thời kỳ mới, thời kì của độc lập và xây dựng chủ nghĩa xã hội...Văn học cũng đã có những đổi mới thực sự. Gắn với vận mệnh của đất nước một cách chặt chẽ, văn học dần chuyển sang một thời kì mới với những vận động và quy luật khác trước. Ngay sau năm 1975, cả nước đón nhận tinh thần hào hứng phấn khởi của niềm vui chiến thắng nhưng đời sống còn biết bao khó khăn, gian khổ, thử thách những di hoạ của chiến tranh, đạo đức nhân cách của con người, và hàng loạt các vấn đề khác... Văn học với quan niệm là một hình thái của ý thức xã hội, đã nhanh chóng chuyển mình để phản ánh những gì đang diễn ra 14 vô cùng mạnh mẽ của cuộc sống. Tình hình xã hội đã đặt ra những yêu cầu mới trong đó có văn hoá nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng. Xong ngay lập tức văn học chưa bắt kịp được những yêu cầu đó một cách thoã mãn. Năm năm sau, năm 1980 đất nước chúng ta rơi vào khủng hoảng kinh tế trầm trọng, và chính nó ảnh hưởng lớn đến mọi lĩnh vực của đời sống, văn hoá xã hội, trong đó có văn học. Một thời kì đầy biến động đã đẩy không ít văn nghệ sĩ rơi vào sự chao đảo, không giữ vững lập trường, bối rối trên con đường lựa chọn cho mình một phương hướng sáng tác đúng đắn. Nguyên Ngọc đã từng nhận xét đây chính là một " khoảng chân không trong văn học ". Vượt qua khó khăn của cuộc khủng hoảng, từ năm 1986 nước ta thực sự bước vào công cuộc đổi mới toàn diện. Đại hội Đảng VI với những quan điểm mới về văn hoá xã hội và nhất là văn học nghệ thuật đã là nguồn động viên khích lệ và tạo nên sự bứt phá mạnh mẽ trong văn học. Xuất phát từ đổi mới mạnh mẽ của văn hoá xã hội, văn học cũng không ngoại lệ, các sáng tác văn học đã kịp thay đổi để bắt kịp với hiện thực đời sống và nhu cầu của người đọc. Cuộc sống khác xưa vì thế con người không chỉ quan tâm đến sự kiện lớn của đất nước, ôn lại lịch sử mà họ quan tâm nhiều hơn đến cuộc sống thường nhật, đến mỗi cá nhân và từng số phận con người. Họ chú ý nhiều hơn đến cuộc sống riêng tư. Văn học lúc này thực sự phải có một sức khái quát lớn, hiện thực cuộc sống phải được khai thác ở cả bề rộng và chiều sâu để đáp ứng nhu cầu con người. Nhu cầu về thẫm mĩ cũng thay đổi đáng kể và đi vào thực tế hơn. Hàng loạt các nhà văn đã tự đổi mới mình như Vũ Tú Nam, Chu Văn, Nguyễn Khải, Bùi Hiển, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Bảo Ninh, Chu Lai, Nguyễn Huy Thiệp ... và Nguyễn Minh Châu cũng không là nhà văn ngoài lệ. Các tác phẩm trong thời kì này đã mở rộng và đào sâu sự khám phá hiện thực con người trong tính đa dạng, phức tạp và luôn biến động trong xu thế dân chủ hoá và thức tỉnh ý thức cá nhân, tinh thần nhân bản. Chính văn học đã đổi mới ngay từ nhận thức, trong phương thức 15 Nằm trong sự chuyển đổi nhiều mặt của xã hội sau khi chiến tranh kết thúc, nền văn học Việt Nam cũng có sự vận động, biến đổi để đáp ứng nhu cầu chung của con người thời đại. Truyện ngắn là thể loại đáp ứng nhanh và linh hoạt hơn các thể loại khác trong giai đoạn chuyển tiếp của nền văn học từ thời chiến sang thời bình. Sự vận động và phát triển của truyện ngắn Việt Nam trong giai đoạn 1975 - 1985 là một hiện tượng mang tính tất yếu. Một mặt, do những thay đổi trong đời sống xã hội với phức tạp trong cuộc sống đời thường và sự đa dạng trong tính cách con người là những nguyên nhân trực tiếp thôi thúc quá trình đổi mới của thể loại. Truyện ngắn đã bứt phá những quy phạm thể loại, những hạn hẹp trong phạm vi phản ánh hiện thực để đáp ứng kịp thời và toàn vẹn những vấn đề của thực tại sau chiến tranh. Mặt khác, từ sau năm 1975 nhất là từ giữa những năm 80 trở đi với chủ trương dân chủ hóa văn học và sự mở rộng giao lưu với văn học các nước trong khu vực và trên thế giới đã dẫn đến những biến đổi quan trọng , sâu sắc nền văn học Việt Nam, trong đó có truyện ngắn. 125 trang Chia sẻ lylyngoc Lượt xem 4984 Lượt tải 6 Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975-1985, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trênng cảnh ngộ, những bi kịch riêng thì đã hình thành rõ nét. Đó là số phận của người đàn bà làng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu. Người đàn bà ấy đã từng là con một nhà khá giả, nhưng vì xấu nên không có ai lấy. Sau đó chị có mang với một anh con trai nhà hàng chài giữa phá và bắt đầu cuộc đời lênh đênh trên sông nước. Cuộc sống dưới thuyền không xuôn xẻ gì lại thêm một lũ con nheo nhóc khiến anh chồng từ một anh con trai cục tính nhưng hiền lành không bao giờ đánh đập vợ con trở thành một kẻ vũ phu. Bi kịch của đàn bà ở chỗ cứ ba ngày bị chồng đánh một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng vậy mà chị ta một mực khăng khăng xin quý toà bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó[11/342]. Tại sao một người bị chồng đánh một cách tàn nhẫn lại không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách trốn chạy? Vì sao chị ta thà hàng ngày chịu đòn của chồng chứ nhất định không li dị hắn? Thì ra, ngã chồng ấy là chỗ dựa quan trọng trong cuộc đời của người đàn bà làng chài, nhất là những khi biển động. Hơn thế chị còn phải nuôi những đứa con, chị đâu chỉ sống cho riêng mình, chị còn phải sống vì chúng nữa. Mặt khác cuộc sống trên thuyền cũng có lúc bình yên, vợ chồng con cái sống vui vẻ, thuận hoà. Dường như trong hoàn cảnh này, cách hành xử của người đàn bà này là không thể khác. Giải pháp bỏ chồng mà ông chánh án đưa ra cho trường hợp của chị là không khả thi. Bởi hơn ai hết người đàn bà ấy hiểu rằng chị đau đớn về thân thể nhưng không thể oán giận chồng. Số phận của anh ta cũng nghiệt ngã chẳng kém gì chị. Anh ta đáng bị lên án bởi sự vũ phu và bởi tự cho phép mình cái quyền được hành hạ người khác để thoả mãn những bực bội trong lòng. Nhưng anh ta cũng đáng nhận được sự cảm thông bởi gánh nặng gia đình. Xét đến cùng anh ta chỉ là nạn nhân của hoàn cảnh sống khắc nghiệt. ở đây Nguyễn Minh Châu nhìn nhận số phận của con người trong cuộc sống không đơn giản mà đa diện, nhiều chiều. Bởi thế người nghệ sĩ bao giờ cũng nhìn thấy đằng sau cái màu hồng của ánh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 95 sương mai trong bức ảnh còn là hình ảnh người đàn bà làng chài bước ra khỏi tranh. Chị là hiện thân của những lam lũ khốn khó đời thường nhưng cũng tiềm ẩn trong đó những vẻ đẹp bình dị của cuộc sống. Số phận của chú bé Kiểm Kiểm - chú bé- con người của Ma Văn Kháng lại khiến người đọc không khỏi day dứt. Bố mẹ bỏ nhau, Kiểm ở với bố, mẹ kế và hai đứa em cùng cha khác mẹ. Trên thân thể em thường hằn lên những dấu vết của những trận đòn và sự hành hạ từ bà mẹ kế. Bà dì vốn cưng chiều con mình, để thoả mãn tình thương ấy bà phải hành hạ, trút cái vất vả khổ cực lên đầu em. Thậm chí cả hai đứa trẻ cũng sớm bị ảnh hưởng cái thói cay nghiệt, cái đặc quyền được đày đoạ con chồng nên đành hanh, nhiều khi quái ác đổ tội lên thằng anh để nó lại phải hứng chịu đòn oan. Một đứa trẻ không may rơi vào cảnh ngộ éo le này, rất dễ trở nên cằn cỗi, thui chột hết cái mầm nhân bản, hết khả năng yêu thương, thậm chí là lạnh lùng, nhẫn tâm với đồng loại. Nhưng Kiểm không chai lì, không tàn nhẫn. Bị vùi dập và dồn vào cảnh thiếu thốn cả vật chất lẫn tình cảm thì em vãn còn giữ được một khoảng cách, chưa đồng hoá với cái xấu. Em yêu thương và chăm sóc chu đáo cho hai đứa em cùng cha khác mẹ với tư cách là một người anh. Em sẵn sàng giúp đỡ và chia sẻ với những người nghèo khó. Khi người mẹ kế lâm bệnh, em đã tự nguyện trở về với một tình yêu vừa non tơ vừa quảng đại và quả cảm. Bởi em nghĩ suốt đời làm người khác khổ thì mình có sung sướng gì đâu. Kiểm là hệ quả của số phận rắc rối giao tiếp qua nhau, là hệ quả những va đập dưới áp lực của những quan niệm đạo đức và dục vọng khác nhau. Sự mưu cầu lợi ích vị kỷ, sức thôi thúc của dạ dầy và trái tim, lầm lỡ cả những tái tạo hồi sinh đã đảo lộn cơ tầng đời sống… làm nảy sinh những đứa trẻ bơ vơ, mất nơi nương tựa và bẽ bàng[31/84]. Nhân vật Dì Út trong truyện ngắn cùng tên của Thanh Quế cũng là một số phận mang đầy tính bi kịch. Đó là người phụ nữ phải chịu cả nỗi đau về thể xác lẫn tinh thần. Sau khi tiễn chồng đi tập kết ở Miền Bắc, người phụ nữ này thường xuyên bị bọn Mỹ nguỵ bắt đi tù, đánh đạp tra khảo luôn. Đau đớn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 96 hơn cả là đứa con gái duy nhất cũng chết vì bệnh trong lúc chị đang ở tù. Sau ngày miền Nam giải phóng, chị vẫn nuôi mẹ chồng và chờ chồng nhưng chồng chị thì không một lần trở lại. Hoá ra anh ta giờ đã là một quan chức, lại sắp đi làm tuỳ viên kinh tế ở nước ngoài. Để leo lên được địa vị đó, anh ta sẵn sàng bịa ra một cái thư giả của một người đã chết vu oan, bêu xấu vợ để lừa tổ chức. Khi vợ biết chuyện, anh ta một mặt đổ thừa cho hoàn cảnh, mặt khác quỳ xuống van vỉ chị bỏ qua. Những người thân muốn chị vạch mặt kẻ bội bạc dối trá kia nhưng chị giữ im lặng. Nếu làm như thế liệu vết thương lòng của chị có thể nguôi ngoai hay chị sẽ chỉ nhận được nhiều ánh mắt cảm thương hơn của người khác? Sự im lặng ấy là biểu hiện cuả lòng bao dung hay sự chấp nhận thực tại phũ phàng? Số phận của con người đã đi qua chiến tranh không chỉ có vầng hào quang mà còn có cả những đau thương mất mát. Khi viết về cái đa đoan của con người trong cuộc sống, truyện ngắn sau 1975 cũng xuất hiện kiểu nhân vật cô đơn. Trong những năm chiến tranh không có con người cô đơn mà chỉ có con người tập thể, con người quần chúng. Xung quanh họ là bạn bè, đồng chí, dân tộc… con người không có điều kiện để soi ngắm tâm hồn mình. Sau 1975, với quan niệm con người cá thể, với sự thức tỉnh ý thức cá nhân thì kiểu nhân vật cô đơn không phải là hiếm. Hơn nữa ở giai đoạn giao thời trong bề bộn cuộc sống thì thật - giả, trắng - đen, tốt -xấu không phải lúc nào cũng minh bạch như hồi chiến tranh. Con người có lúc hoang mang trước nhiều lựa chọn. Vì thế con người cô đơn trở thành một điểm xoáy thu hút nhiều tác giả truyện ngắn. Bằng nhiều cách, mỗi nhà văn đã đi vào khám phá các phương diện khác của sự cô đơn. Nguyễn Minh Châu đi vào nỗi bất hạnh của con người sau chiến tranh với một khoảng trống trong tâm hồn không gì bù đắp nổi Quỳ- Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành. Dương Thu Hương lại xây dựng một kiểu nhân vật cô đơn đi tìm kiếm hạnh phúc, thứ hạnh phúc không thể với được trong tầm tay Ngân- Những bông bần li. Nhân vật cô đơn trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng thì tìm cách thì chạy trốn quá khứ ông Thiềng- Ngày đẹp Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 97 trời. Còn Nghĩa Căn nhà ở phố- Nam Ninh lại cô đơn lạc lõng ngay chính gia đình của mình. Đến nỗi anh phải tạo ra một kịch bản giả viết thư cho chính mình để tìm một cái cớ hợp lý cho việc rời khỏi gia đình. Nhiều nhân vật cô đơn trong truyện ngắn sau 1975 là những con người vừa bước ra khỏi chiến tranh. Họ không dễ dàng hoà nhập với những thay đổi trong cuộc sống hoà bình. Tuy nhiên ngày càng xuất hiện những nhân vật cô đơn về trạng thái tâm hồn. Đó là sản phẩm của những va đập trong cuộc sống đời thường, trong những quan niệm đạo đức nhân sinh trong cách ứng xử như nhân vật Đính trong Người không đi cùng chuyến tàu của Nguyễn Quang Thân. Anh là một con người có tài năng và trách nhiệm cao trong công việc. Anh luôn tìm ra một phương án tối ưu để sửa chữa cho những dự án sai lầm. Đó là một công việc rất hữu ích nhưng không phải lúc nào cũng được mọi người ủng hộ. Người cho rằng anh đang chống lại tập thể, người lại tưởng anh đang tranh chấp quyền lực, đến người anh yêu cũng không dám ra mặt ủng hộ anh. Vì thế, cuộc sống của anh luôn vấp phải rất nhiều những hiểu lầm, những lời chỉ trích gay gắt và suốt cuộc đời anh đã luôn phải đấu tranh cho chân lý trong cô đơn. Như vậy, cô đơn thực chất là chuyện của những số phận, những con người cá nhân nhưng nó không phải là vấn đề riêng tư, nhỏ bé. Đi vào từng mảnh đời cô độc là những vấn đề mang tính xã hội lớn lao. Thể hiện con người cô đơn chính là biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạo trong truyện ngắn sau 1975 để góp phần giúp cho người đọc hiểu rõ hơn những tình cảm sâu kín thuộc về vấn đề con người. ở mỗi truyện ngắn sau chiến tranh là từng cá thể, từng mảnh đời thầm lặng hay sôi động. Chân dung và số phận con người đã được thể hiện khá sinh động sâu sắc, đa chiều. Đi sâu vào tâm hồn con người, nhà văn thấy được ở mỗi số phận ấy từng niềm vui, nỗi buồn hay sự đau khổ, khao khát, đam mê. Những đổi mới bước đầu trong nghệ thuật xây dựng nhân vật Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 98 Có ý kiến cho rằng truyện ngắn sống bằng nhân vật và nó bộc lộ đầy đủ những đặc tính của thể loại, mở ra cho văn học những đề tài, những vấn đề mới của đời sống bằng những hình tượng văn học. Nếu truyện ngắn 1945- 1975 thể hiện quan niệm con người tập thể, con người quần chúng nên nhân vật thường được thể hiện trong các sự kiện, biến cố lịch sử thì truyện ngắn sau 1975, trở về con người cá nhân. Nhân vật thường được thể hiện qua các mối quan hệ đời thường, qua thế giới nội tâm, qua miền ý thức, vô thức đầy bí ẩn, phức tạp. Với xu hướng khám phá, thể hiện con người mới mẻ như vậy, truyện ngắn giai đoạn 1975- 1985 đã hình thành một số kiểu nhân vật mới. Cách biểu hiện nhân vật cũng đang có những chuyển biến mới. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật Văn học Việt Nam 30 năm chiến tranh xây dựng con người quần chúng, con người hiện thân cho ý chí cách mạng. Đó là những con người cầm súng và quyết thắng lấn át con người bình thường, con người tinh thần, ý chí nổi lên trên con người vật chất, con người vì nghĩa lớn lấn át con người riêng tư[81/428].Việc đi sâu khai thác tâm lí con người chưa được coi là một thao tác bình thường trong văn học giai đoạn này. Tuy nhiên, khi văn học trở về với con người cá nhân, con người trong cuộc sống đời thường thì việc miêu tả tâm lí con người lại như một lợi thế của văn xuôi nói chung. Bởi lẽ khi các tác giả tập trung sự chú ý vào quá trình hình thành cá tính, tính cách của con người tất yếu sẽ dẫn đến sự tăng cường yếu tố phân tích tâm lí và khắc họa cá tính nhân vật. Khảo sát truyện ngắn giai đoạn 1975- 1985 có thể nhận thấy, các nhà văn đã khá nhạy bén trong việc miêu tả tâm lí, cá tính, tư tưởng của con người. Tuy nhiên, đó mới chỉ là sự miêu tả những xung đột nội tâm, những rung động trong cảm xúc, những biến đổi trong tâm lí nhân vật chứ chưa hoàn toàn nắm bắt trọn vẹn một quá trình tâm lí, tư tưởng để xây dựng những hình tượng nghệ thuật có sức sống lâu bền. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 99 Trong khi miêu tả tâm lí nhân vật, các tác giả thường để cho nhân vật tự ý thức về bản thân mình trong những mối quan hệ với xung quanh, tự mình bộc lộ với chính mình những suy nghĩ và cảm xúc chân thực nhất. ở đó thủ pháp độc thoại nội tâm được sử dụng một cách hữu hiệu để nhân vật tự bộc lộ những suy tư, trăn trở của bản thân. Những tiếng nói từ bên trong, những lời tự vấn của người họa sĩ trong Bức tranh Nguyễn Minh Châu chính là động lực thúc đẩy sự phát triển tính cách của anh ta. Lúc đầu, khi phát hiện ra lỗi lầm do sự thất hứa của mình, anh ta đã day dứt Tại sao ngày ấy tôi đã không dưa tấm ảnh đén cho gia đình anh? Tại sao tôi không giữ lời hứa? Tôi đã hứa với anh và cả tôi nữa, đinh ninh và hùng hồn lắm, và cũng thực tâm lắm chứ?[11/126]. Rồi chính anh lại tự biện minh cho việc làm của mình Tôi là một nghệ sĩ chứ có phải đâu là anh thợ vẽ truyền thần, công việc của người nghệ sĩ là phải phục vụ cả số đông, chứ không phải chỉ phục vụ một người[11/127]. Những lời tư biện này chứng tỏ anh ta chưa thấy được hết cái nguy hiểm của thói quen lấy lợi ích cộng đồng làm bình phong che chắn cho hành vi thất hứa của mình. Vì thế, xung đột nội tâm của nhân vật chưa dừng lại ở đó mà được đẩy cao hơn trong cuộc đối thoại tưởng tượng với người thợ cắt tóc. Đó là một thứ trảm hình trong lòng nhân vật để anh ta nhận ra cái bộ mặt thật của mình vừa được lột ra khỏi cái mặt nạ hàng ngày. Truyện ngắn này lôi cuốn người đọc bởi cách xoáy sâu vào tâm lí nhân vật và nghệ thuật tạo căng thẳng dần, siết chặt dần từ cảm giác ân hận bị dìm xuống đến lòng hối hận bùng lên, rồi một niềm ăn năn không dứt mãi không thôi trong lòng nhân vật. ở đây, tác giả đã cố gắng đưa nhân vật đi đến tận cùng sự phân tích bên trong để nhìn rõ chính nó. ở Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Nguyễn Minh Châu tỏ ra là cây bút có khả năng phân tích và thể hiện được những biến động tâm lí khá phức tạp của một tâm hồn không đơn giản như Quỳ. Nhà văn chọn cho câu chuyện của mình bằng dạng thức tự kể của nhân vật chính. Đó là những lời kể chân thành như lời tự thú của Quỳ. Rồi cứ thế cả thiên truyện dần dần hiện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 100 ra cùng vói việc khám phá phần cốt lõi khó khăn phức tạp đầy biến động nhất của nội tâm, đó là các cuộc tình của Quỳ. Đúng là để xây dựng nhân vật này, Nguyễn Minh Châu đẫ phải huy động một khối lượng đậm đặc những chi tiết, những chi tiết buộc phải có nhiều kinh lịch trên đường viết văn, một quan sát tinh tế lắm, một vốn hiểu biết về nhân vật sâu sắc mói có thể có được[81/311]. Mỗi nhà văn trong từng truyện ngắn của mình có những khám phá riêng về đời sống tâm hồn của nhân vật. Nếu Vũ Tú Nam trong Đi đón cơn mưa miêu tả thành công những xao động trong tâm hồn của một người thầy giáo khi biết được tình cảm của một người phụ nữ có số phận bất hạnh dành cho mình thì Thùy Linh lại đọc ra được một nghị lực ghê gớm, một sự thèm khát tình yêu của bố mẹ trong đôi mắt vốn lạnh lùng của cậu bé Nguyên Mặt trời bé con của tôi. Phạm Thị Minh Thư miêu tả những trạng thái tâm hồn đầy tinh tế, thơ mộng và tràn đầy niềm tin của nhân vật trong một đêm tản cư mà có lẽ chẳng sự tàn bạo, khốc liệt nào đè bẹp nổi Có một đêm như thế. Dù rằng mỗi tác giả truyện ngắn mới chỉ đi vào miêu tả tâm lí nhân vật trong từng thời khắc nhất định chứ chưa phải là toàn bộ quá trình tâm lí thì điều này cũng đã góp phần làm cho nhân vật được soi chiếu ở nhiều bình diện. Mặt khác khi đi vào miêu tả tâm lí nhân vật, các cây bút truyện ngắn còn sử dụng yếu tố tâm linh như một biện pháp để khám phá sâu hơn nội tâm nhân vật. Với các hình thức giấc mơ, điềm báo, đối thoại giữa những mảng tâm linh… nhờ đó chất người được bộ lộ đa chiều, đa diện hơn. Dưới hình thức những cơn mộng du Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành Nguyễn Minh Châu đã khắc họa sâu sắc những tình cảm của một người đàn bà suốt đời lang thang đi tìm chân trời của những giá trị tuyệt đối. Cả thiên truyện dường như được bao bọc trong một bầu không khí phảng phất màu sắc mộng mị, huyền thoại. Nhiều lần trên con tàu mộng du của Quỳ yếu tố tâm linh đã xuất hiện góp phần soi tỏ nội tâm nhân vật. Chẳng hạn khi gặp pho tượng Phật ngàn tay ngàn mắt ở một ngôi chùa trong một lần đi công Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 101 tác, Quỳ nghĩ ngay đến đôi bàn tay của người trung đoàn trưởng đã hi sinh. Quỳ nâng vạt áo quân phục dính đầy dầu mỡ lên lau sạch những lớp bụi bám trên một bàn tay. Nhưng khi vừa chạm tới, vạt áo của chị đã ướt đẫm mồ hôi, y như mồ hôi người cứ dấp dính toát ra từ chất gỗ. Và cảm giác của nhân vật lúc này hoàn toàn được soi chiếu từ ánh sáng của tâm linh Tôi sợ hãi lùi ra xa, ngước nhìn khuôn mặt ấy tự nhiên tôi bỗng hoảng hốt khi nhận ra đang phảng phất trên cặp môi bằng gỗ, vẫn cái nụ cười ấy, cái nụ cười bí ẩn mà tôi đã trông thấy rất nhiều lần hiện lên trên cặp môi anh ấy trước khi chết[11/164]. Dưới hình thức của một giấc mơ, truyện ngắn Mai Thanh Quế lại bộc lộ được những diễn biến tâm trạng nhân vật người cha sau nhiều ngày đi tìm mộ con không đem lại kết quả gì. Một buổi sáng khi ông vừa định trở dậy thì chẳng hiểu vì lí do bí ẩn nào một cơn buồn ngủ đến nhức cả mắt kéo ông nằm xuống. Ngay lập tức một cơn mơ lạ đến với ông. Trong giấc mơ, ông đã gặp con gái mình trong một rừng dương. Kì lạ thay giấc mơ ấy lại trùng với manh mối để tìm ra mộ con ông. Ông thấy cái việc tìm mộ con có điều gì thật bí ẩn, nó giông giống như trong giấc mơ. Phải chăng vong hồn cô con gái đã mách bảo cho người cha? Hay đó chính là cái ánh sáng được phát ra từ thế giới bên trong như một sự mác bảo của tâm linh? Bởi lẽ vốn từ xưa ông không hề mê tín. Nhưng hôm nay, tự nhiên ông thấy trong lòng ông rao rực, tai ông nóng bừng và chung quanh nhà ông lâu nay im ắng bỗng có một bầy chim lạ về chao hót[67/273]. Diễn tả cái khoảnh khắc biến động trong tâm hồn người cha từ đời sống tâm linh như thế cũng là một cách đi vào chiều sâu tâm hồn nhân vật. ở Những bông bần li Dương Thu Hương thì sự kết hợp của hai yếu tố thực và ảo cũng góp phần soi sáng chiều sâu tâm thức nhân vật. Nếu cuộc sống hiện tại với người chồng hờ hững vô tâm chỉ đem lại cho Ngân những bực bội, đau khổ thì hình ảnh và sự hi sinh của Nghiêm người yêu trong quá khứ của Ngân lại đem đến cho chị những sự nâng đỡ. Dù rằng những tình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 102 cảm ấy chỉ như một tiếng sấm vọng về từ cuối trời xa khi cơn giông đã qua đi lâu lắm thì nó vẫn làm cho người đàn bà ba mươi lăm tuổi ấy lần đầu tiên biết nghĩ đến đời mình một cách thấu đáo. Cũng là lần đầu tiên chị tìm thấy nguồn sáng riêng biệt cho đường đi của mình[67/157]. Sự soi rọi từ bóng hình của người chiến sĩ đã hi sinh có tác động thăng bằng và thanh lọc tâm hồn Ngân. Nó như một luồng ánh sáng thoạt đầu còn mỏng manh như sợi khói trong cõi vô thức xa xôi nhưng dần dần nó rõ nét hơn, lớn hơn choán hết tâm trí chị. Như vậy, trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 phương diện đời sống tâm linh con người được khám phá ở một chiều sâu mà giai đoạn trước đó chưa đạt đến. Nó góp phần làm phong phú trong quan niệm nghệ thuật về con người và tạo ra những biến đổi quan trọng trong phương thức biểu hiện nhân vật. Nhìn chung, việc khám phá sâu vào lĩnh vực tâm linh, mở ra những miền phong phú, bí ẩn không cùng của con người chính là xuất phát từ một quan niệm không đơn giản, xuôi chiều về con người, từ ý muốn khám phá con người ở nhiều thang bậc giá trị, ở những tọa độ ứng xử khác nhau, ở nhiều chiều kích[21/288]. Nghệ thuật miêu tả nhân vật trong những chiều thời gian khác nhau Bên cạnh việc phân tích tâm lí, nhân vật còn được đặt trong dòng thời gian và lịch sử, trong các khả năng lựa chọn và thích ứng, trong những nghịch lí của tồn tại, trong sự khác biệt của những người hôm qua và những người hôm nay. Nguyễn Văn Long cho rằng giải pháp nghệ thuật mà một số truyện ngắn đã tìm đến là đặt nhân vật vào trong những chiều thời gian khác nhau, đan cài giữa hiện tại và quá khứ để làm nổi bật nghệ thuật này trong đời sống tinh thần và số phận mỗi con người khác nhau[39/218]. Việc sử dụng thời gian đồng hiện thường đi liền với những đối thoại bên trong của nhân vật như là những thủ pháp giúp nhà văn đi sâu hơn vào thế giới bên trong, vào những diễn biến tâm lí vô cùng phức tạp của con người. Có thể kể đến những truyện ngắn đã thành công trong việc sử dụng giải pháp nghệ thuật này như Sống Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 103 trong thời gian hai chiều Vũ Tú Nam, Có một đêm như thế Phạm Thị Minh Thư, Gió từ miền cát Xuân Thiều, Người không đi cùng chuyến tàu Nguyễn Quang Thân… ở những truyện ngắn này việc đan xen giữa hiện tại và quá khứ thể hiện sự phân thân trong đời sống tinh thần của con người. Giữa những lo toan đời thường sau chiến tranh, con người vẫn dành một phần tâm tưởng cho quá khứ. Nhiều lần hiện tại mờ đi hoặc đi soi sáng nhờ quá khứ. ở Những bông bần li, quá khứ đã trở thành nỗi ám ảnh trong nhân vật Ngân. Quá khứ với một người yêu đã hi sinh nhưng đôi mắt nâu dài, khi cười như có nắng của anh vẫn luôn theo chị. Đặc biệt là những lời nói cuối cùng của anh trước khi ra đi trong cuộc chiến đấu lâu dài này, tụi mình hi sinh phải lí hơn, tụi mình già rồi. Các cậu còn trẻ các cậu phải ở lại để đánh giặc cho tới lúc chiến thắng [67/153]như một sự thức tỉnh tâm hồn chị, giúp chị một lựa chọn đúng đắn trong cuộc sống hiện tại Những bài học lịch sử…đó chính là luồng sáng lung linh nâng đỡ cuộc đời chị. Chị sẽ giáo dục các con chị, những học sinh nhỏ bé của chị, những thế hệ sau này biết rung động sâu xa trong đời sống chung, với những cội nguồn đem đến cuộc sống cho chúng[67/157]. Đúng như tên gọi của nó Sống trong thời gian hai chiều của Vũ Tú Nam lại như một bản kiểm điểm chân thành của nhân vật trước dòng chảy của thời cuộc. Tác giả đặt nhân vật ở thời điểm ngoái nhìn lại quá khứ sau khi đã từng kinh qua hai cuộc kháng chiến. Chỉ mấy ngày trở lại quê hương nhưng ông An đã sống trong hai chiều thời gian của mấy chục năm. Thời gian đã cật vấn ông, nhào nặn ông, phán xét và thúc đẩy ông[67/866]. Nếu thời trẻ khi đi vào cách mạng lòng ông luôn phơi phới, tưởng như cái gì cũng đơn giản, dễ dàng thì khi cuộc sống trở về hoàn cảnh bình thường lại đặt ông trước bao mối quan hệ mới mẻ buộc phải lựa dòng đời, trước dòng thời gian, ông đã phải dừng lại để suy ngẫm chúng nó con cháu mình đi xuôi thời gian, các cụ ngược về dĩ vãng, còn mình thì đứng giữa ư? Hay Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 104 theo hướng nào ?[67/850] Sự đồng hiện về thời gian ở truyện ngắn này gúp nhà văn đi sâu hơn vào những diễn biến tâm lí phức tạp của nhân vật. Cái quá khứ trong veo, thoảng hương hoa loa kèn và âm hưởng của giọng nói vừa giễu cợt vừa trìu mến lại như một luồng gió tươi mát ùa vào tâm hồn mệt mỏi Miên Có một đêm như thế- Phạm Thị Minh Thư. ở truyện ngắn này, cái ánh sáng rạng rỡ của ngày hôm qua vẫn tiếp tục chiếu rọi vào cuộc sống hàng ngày hôm nay như nâng bước cho con người trong cuộc sống hiện tại. Trong Khách ở quê ra Nguyễn Minh Châu thời gian hiện tại và quá khứ đan cài vào nhau theo dòng chảy tâm trạng của nhân vật Khúng. Nhiều truyện ngắn khác lại có cuộc hành trình ngược về quá khứ như tìm đến một nguồn sức mạnh tinh thần để đi tiếp hành trình đến tương lai Tuổi thơ im lặng, Gió từ miền cát . Có thể nói, trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945-1975, vấn đề thời gian chưa có nhiều ý nghĩa trong đời sống nội tâm con người như giai đoạn sau 1975. Đây không phải là thời gian của những sự kiện lớn lao hay thời gian vĩnh hằng trong dòng chảy của nó mà là thời gian trong ý thức của cá nhân, ý thức về từng khoảnh khắc đang sống. Đó là thời gian của những tâm trạng, gắn với những biến động trong đời sống mỗi con người cá thế việc đặt nhân vật vào những chiều thời gian khác cũng là một cách để miêu tả sâu sắc hơn đời sống nội tâm của con người . thuật trần thuật Theo từ điển thuật ngữ văn học trần thuật là phương diện cơ bản của thể loại tự sự, là việc giới thiệu khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của chủ thể trần thuật. Nghệ thuật trần thuật là cả một hệ thống tổ chức phức tạp nhằm đưa hành động lời nói nhân vật vào đúng vị trí của nó để người đọc lĩnh hội theo ý định tác giả. Trong trần thuật có nhiều phương diện điểm nhìn trần thuật, giọng điệu trần thuật, ngôn ngữ trần thuật…ở luận văn này chúng tôi chỉ khái quát những dấu hiệu đổi mới của nghệ thuật trần thuật trên các phương diện chính. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 105 Sự đa dạng về điểm nhìn trần thuật Điểm nhìn văn bản là phương thức phát ngôn, trình bày, miêu tả phù hợp trong cách nhìn, cách cảm thụ thế giới của các tác giả. Khái niệm điểm nhìn mang tính ẩn dụ, bao gồm mọi nhận thức, đánh giá, cảm thụ của chủ thể đối với thế giới. Nó là vị trí dùng để quan sát, cảm nhận, đánh giá bao gồm cả khoảng cách giữa chủ thể và khách thể, cả phương diện vật lý, tâm lý văn hoá[78]. Khảo sát truyện ngắn giai đoạn 1975-1985 cho thấy, điểm nhìn trần thuật được tổ chức chủ yếu từ ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba. Trần thuật ở ngôi thứ nhất, là hình thức mới xuất hiện trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX. Đây cũng là hình thức nghệ thuật được truyện ngắn nói riêng và văn xuôi nói chung sử dụng chủ yếu ở hai dạng cụ thể Trần thuật từ ngôi thứ nhất với vai trò người dẫn truyện hoặc trao cho nhân vật chức năng trần thuật từ ngôi thứ nhất về hình thức nhân vật có thể xưng tôi nhưng không phải là tác giả. Trần thuật ở ngôi thứ nhất trong vai trò người dẫn truyện thực chất chủ thể trần thuật được nhân vật hoá để thực hiện vai trò dẫn truyện. Trước năm 1975, tuy chủ thể trần thuật cũng được nhân vật hoá nhưng thực chất vẫn là cái tôi hướng ngoại đại diện cho cộng đồng. Còn sau 1975, đó là cái tôi hướng nội, là sự trần thuật theo quan điểm cá nhân. Đó là nhân vật nghệ sĩ nhiếp ảnh trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, nhân vật tôi Mặt trời bé con của tôi- Thùy Linh, nhân vật tôi Hạnh Nhơn - Nguyễn Thành Long...Với kiểu trần thuật này, người kể truyện thường xưng tôi đóng vai trò trung tâm, giữ quyền kể truyện từ đầu đến cuối chuyện. ở một số truyện hầu như tôi là nhân vật duy nhất, còn những nhân vật khác chỉ được miêu tả từ điểm nhìn của người kể truyện Hạnh Nhơn. Qua hình thức kể truyện này, người kể truyện - tác giả - đã thể hiện tư tưởng tình cảm của mình một cách tự nhiên. ở truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa trong khi kể lại cảnh người chồng đánh vợ một cách tàn bạo, người kể truyện đã bộc lộ ngay thái độ của mình Tất cả mọi việc xảy đến khiến tôi kinh ngạc đến mức, trong mấy phút Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 106 đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn. Thế rồi, chẳng biết từ bao giờ, tôi đã vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào tới[11/336]. Còn ở truyện Hạnh Nhơn, trong tình huống nhận lầm cha của cô bé Hạnh Nhơn người kể chuỵện đã rất dễ dàng bộc lộ những băn khoăn suy nghĩ của mình Cuộc đời của em như thế nào mà em phó thác giọt máu đó của em cho anh? Tôi rất bối rối trong tình huống khó xử đó…Vậy thì tôi giải quyết như thế nào ý muốn của người đã khuất[8/309]. Như vậy, qua hình thức trần thuật này, thường là những nhân vật hướng nội, có đời sống nội tâm phong phú, có quá trình diễn biến tâm lí phức tạp. Người trần thuật cũng là người tham gia vào câu chuyện và nhiều khi in đậm dấu ấn của chính tác giả với những trạng thái tâm hồn, cảm xúc hoặc cuộc đời, số phận riêng không phẳng lặng. ở dạng thứ hai trong cách trần thuật từ ngôi thứ nhất thường là các nhân vật được tác giả trao cho chức năng trần thuật. Đó là Quỳ Người đà bà trên chuyến tàu tốc hành, là Miên Có một đêm như thế là Ngân Những bông bần li…Trao cho nhân vật nhiệm vụ trần thuật hoặc người kể truyện đứng đằng sau nhân vật, nhà văn không tham gia vào quá trình diễn biến câu chuyện mà để cho các nhân vật tự kể lại cuộc đời, số phận của mình. Cách trần thuật này giúp cho nhà văn có thể soi vào phần khuất lấp trong ý nghĩ của nhân vật vì người trần thuật vừa là nhân chứng vừa là nhân vật chính của câu chuyện. Với cách trần thuật từ ngôi thứ ba, chủ thể trần thuật là người biết hết mọi người, mọi việc và giữ vai trò duy nhất trong miêu tả, kể chuyện, dẫn chuyện. Trong truyện ngắn giai đoạn trước 1975, điểm nhìn trần thuật từ ngôi thứ ba thường tạo ra khoảng cách giữa người kể chuyện và đối tượng kể. Thời kỳ sau 1975, các nhà văn thường trần thuật từ ngôi thứ ba nhưng có sự hoà nhập song trùng chủ thể khiến cho khoảng cách giữa nhà văn và nhân vật được thu hẹp dần. Từ điểm nhìn bên ngoài để khẳng định cho một tư tưởng có sẵn, điểm nhìn trần thuật dịch chuyển vào bên trong ở lối trần thuật này, tác giả không chỉ kể mà còn đi sâu miêu tả tâm trạng bên trong nhân vật trong Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 107 những lời độc thoại, những hồi tưởng, nhận thức, suy tư, chiêm nghiệm. Những truyện ngắn về đề tài thế sự của Nguyễn Minh Châu thường được trần thuật từ điểm nhìn này Đứa ăn cắp, Mẹ con chị Hằng, Hương và Phai, Lũ trẻ ở dãy K… Trần thuật theo cách này, lúc đầu nhà văn trọn một điểm nhìn tương đối khách quan bên ngoài sau đó di chuyển điểm nhìn vào bên trong nhân vật. ở đó cái nhìn như xuyên qua nội tâm nhân vật trong một tính chất hoà nhập đậm nét đến mức tạo cho người đọc có cảm giác tác giả đã hoá thân vào nhân vật của mình, nhìn thế giới theo con mắt của nhân vật thâm nhập vào suy nghĩ và ấn tượng của nhân vật. Truyện Sống mãi trong cây xanh của ông tiêu biểu cho cách trần thuật này. Lúc đầu, khi miêu tả công việc của bác Thông tác giả tỏ ra khách quan như người đứng ngoài chứng kiến vừa miêu tả, vừa kể lại. Nhưng khi kể đến việc chặt cây sấu, người kể chuyện như nhập hẳn vào nội tâm nhân vật, sống trong những tâm trạng đau đớn xót xa như sắp phải đứng để cho người ta cưa tay cưa chân mình. Sự hoà nhập, thậm chí hoá thân đó đã giúp nhà văn đi sâu khám phá thế giới nội tâm phong phú, phức tạp, những diễn biến tâm lí tinh vi của nhân vật trong mối quan hệ với thế giới đa dạng, đa chiều . Truyện ngắn giai đoạn chiến tranh thường có một giọng, một điểm nhìn trần thuật. Nhưng trong các truyện ngắn sau 1975, xu hướng chung là có sự phối hợp các điểm nhìn trần thuật. Có điểm nhìn người dẫn truyện, điểm nhìn nhân vật, điểm nhìn bên trong, bên ngoài, điểm nhìn không gian thời gian, điểm nhìn đánh giá tư tưởng cảm xúc ...Tác giả để cho các điểm nhìn này đan cài vào nhau vì thế nhân vật được soi chiếu từ nhiều góc độ, được khắc hoạ toàn vẹn hơn về chân dung, tính cách, số phận để từ đó khái quát lên những vấn đề có tính triết lí. Chiếc thuyền ngoài xa Nguyễn Minh Châu là một trong những truyện ngắn tiêu biểu cho việc phối hợp các điểm nhìn. Số phận đầy bi kịch của người đàn bà làng chài được Nguyễn Minh Châu soi chiếu từ nhiều điểm nhìn khác nhau của các nhân vật. Mỗi nhân vật một cách nhìn. Với cái nhìn của trẻ con vô tư, yêu ghét rạch ròi thì thái độ của thằng Phác là Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 108 giận giữ nhảy xổ vào người bố để chống trả lại những trận đòn bảo vệ mẹ nó. Còn chị nó đã đủ lớn khôn hơn để ngăn giữ nó lại. Vị chánh án thì một mực đưa ra giải pháp li hôn và cho đó là cách giải quyết duy nhất để giải thoát cho người đàn bà kia khỏi sự vũ phu của người chồng. Nhà nhiếp ảnh thì vô cùng phẫn nộ trước cảnh tượng hết sức vô lí. Nhưng người đàn bà, nạn nhân của tấn bi kịch, lại khiến người khác giật mình lòng các chú tốt nhưng các chú đâu có phải người là làm ăn... cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của người làm ăn lam lũ khó nhọc[11/343]. Một người đàn bà với lũ trẻ đâu có sống dễ dàng gì giữa mênh mông sông nước nếu thiếu đi bàn tay chèo chống của người đàn ông. Người đàn bà ấy không sống cho mình mà sống vì những đứa con kia. Với sự đa dạng về điểm nhìn như thế, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu là sự phát hiện ra những vấn đề nhức nhối của đời sống con người, buộc người đọc phải trăn trở trong những câu hỏi không dễ tìm lời giải đáp . Như vậy sự đa dạng và sự chuyển dịch liên tục các điểm nhìn trần thuật đã tạo ra cho các tác giả nhiều cách thức khác nhau khi tiếp cận hiện thực và thể hiện tư tưởng nghệ thuật của mình. Đồng thời sự phong phú về điểm nhìn cũng là điều kiện quan trọng để hình thành giọng điệu . Sự đa thanh trong giọng điệu trần thuật Từ giọng điệu chủ âm là ngợi ca trong văn xuôi giai đoạn chiến tranh, văn xuôi sau năm 1975 có sự đa dạng, phong phú hơn trong giọng điệu trần thuật. Mỗi nhà văn bộc lộ cá tính sáng tạo của mình ở một giọng điệu riêng khó trộn lẫn. Họ đã chú ý hơn trong việc miêu tả tâm lí con người, vì thế nhân vật thường bộc lộ những nét tính cách, phẩm chất qua sự chiêm ngưỡng, suy nghĩ đấu tranh trong chính bản thân mình. Điều này được thể hiện qua nhiều truỵên ngắn của Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Vũ Tú Nam, Xuân Thiều, Dương Thu Hương… Trong văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng từ sau năm 1975, người đọc nhận thấy sự đan xen của nhiều giọng điệu. Ngay ở một tác giả một Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 109 tác phẩm tính chất đa dạng cũng ngày càng bộc lộ rõ. Nguyễn Minh Châu là trường hợp tiêu biểu về sự đa dạng trong giọng điệu trần thuật. Có thể coi Bức tranh là truyện ngắn thể hiện những thay đổi sớm nhất và rõ nhất về giọng điệu trong các sáng tác sau chiến tranh của ông. ở truyện ngắn này, giọng điệu tác giả và giọng điệu của nhân vật nhiều lúc khó mà phân biệt. Sự hoà quyện giọng điệu ấy vang lên trong cuộc đấu tranh nội tâm của nhân vật qua đó ghi lại những diễn biến tâm trạng một cách chân thực. Cuộc đối thoại khi thì mang giọng điệu mỉa mai giễu cợt thói đạo đức giả của chính nhân vật A ha! Vì mục đích phục vụ số đông của người nghệ sĩ cho nên anh quên tôi đi hả…Có quyền lừa dối hả? Thôi, anh bước khỏi mắt tôi đi[11/127]; khi thì mang giọng tư biện Tôi là một nghệ sĩ chứ có phải đâu là một anh thợ vẽ truyền thần…Anh chỉ là một cá nhân, với cái chuyện riêng của anh, anh hãy chịu khó để cho tôi quên đi, để phục vụ cho cái đích lớn lao hơn[11/127]; khi lại đanh thép kết tội mình là đồ dối trá. Những giọng này vừa đan xen, vừa luân chuyển theo những biến đổi tâm trạng của nhân vật. Nhưng nổi bật và xuyên suốt trong tác phẩm vẫn là một giọng điệu thâm trầm của một tâm hồn đang diễn ra những biến cố dữ dội. Tính chất đa giọng điệu ấy tiếp tục được sử dụng triệt để hơn trong Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành. ở thiên truyện này luôn vang lên nhiều tiếng nói khác nhau, nhiều cuộc đối thoại đan cài, xen kẽ vào nhau. Tiêu biểu là những đối thoại nội tâm của Quỳ trong những giằng xé trăn trở trong cơn mộng du để tìm đến trong chân lí của cuộc sống. Đó còn là cuộc đối thoại giữa nhân vật người dẫn chuyện với Quỳ, giữa Quỳ và anh ấy, rồi giữa Quỳ với vong linh những người lính đã từng yêu thương cô. Chính tính chất đa giọng điệu đã tạo ra sức gợi mở và tính tranh luận để kiếm tìm chân lí. Đó cũng chính là một trong những biểu hiện của xu hướng dân chủ hoá trong văn xuôi của Nguyễn Minh Châu đầu những năm 80. Khi đi vào cuộc sống của những con người đời thường, tuỳ theo từng kiểu người mà giọng điệu của nhà văn biến đổi linh hoạt cho phù hợp. ở Sắm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 110 vai, miêu tả sự lố bịch kệch cỡm trong hành động của nhà văn T, Nguyễn Minh Châu chủ yếu sử dụng giọng điệu hài hước. ở Mẹ con chị Hằng, Đứa ăn cắp là giọng nghiêm nghị, xót xa khi nói đến những sự vô tâm của con người trong cuộc sống. Còn ở Bức tranh và Dấu vết nghề nghiệp lại là giọng điệu trầm tĩnh, day dứt đầy triết lí. Với nhân vật Khúng trong Khách ở quê ra, nhà văn sử dụng giọng điệu suồng sã, đời thường . Sự thay đổi từ một giọng sang đa giọng trong truyện ngắn sau 75 có căn nguyên từ những đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người. Cuộc sống trong chiến tranh ồn ào náo động nhưng có cái đơn giản của nó còn cuộc sống trong hoà bình lại chất chứa nhiều sóng ngầm gió xoáy Nguyễn Khải bên trong. Đứng trước những vấn đề xã hội nhân sinh mới mẻ đòi hỏi nhà văn phải có những cách tiếp cận mới, những cách giải quyết mới khác với thời chiến. Trở về với đời thường để dẫn người đọc thâm nhập vào cái bên trong đầy bí ẩn, chứa đựng cái bản ngã của mỗi người trong những mặt đối lập, phức hợp trong tính cách của nó, các tác giả hầu hết đã thay đổi giọng điệu trần thuật và có bước tiến mới trong tổ chức giọng điệu trần thuật. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 111 PHẦN KẾT LUẬN 1. Nằm trong sự chuyển đổi nhiều mặt của xã hội sau khi chiến tranh kết thúc, nền văn học Việt Nam cũng có sự vận động, biến đổi để đáp ứng nhu cầu chung của con người thời đại. Truyện ngắn là thể loại đáp ứng nhanh và linh hoạt hơn các thể loại khác trong giai đoạn chuyển tiếp của nền văn học từ thời chiến sang thời bình. Sự vận động và phát triển của truyện ngắn Việt Nam trong giai đoạn 1975 - 1985 là một hiện tượng mang tính tất yếu. Một mặt, do những thay đổi trong đời sống xã hội với phức tạp trong cuộc sống đời thường và sự đa dạng trong tính cách con người là những nguyên nhân trực tiếp thôi thúc quá trình đổi mới của thể loại. Truyện ngắn đã bứt phá những quy phạm thể loại, những hạn hẹp trong phạm vi phản ánh hiện thực để đáp ứng kịp thời và toàn vẹn những vấn đề của thực tại sau chiến tranh. Mặt khác, từ sau năm 1975 nhất là từ giữa những năm 80 trở đi với chủ trương dân chủ hóa văn học và sự mở rộng giao lưu với văn học các nước trong khu vực và trên thế giới đã dẫn đến những biến đổi quan trọng, sâu sắc nền văn học Việt Nam, trong đó có truyện ngắn. Sự cách tân thể loại này bắt đầu từ quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người đến phương thức thể hiện, từ chức năng của văn học đến tư cách người nghệ sĩ, từ phương diện tư tưởng đến phương diện thi pháp. Tuy nhiên, những sự thay đổi đó mới chỉ là những dấu hiệu tiềm ẩn, chưa định hình rõ ràng, với những thể nghiệm, những bước dò tìm để chuẩn bị cho quá trình đổi mới sẽ diễn ra mạnh mẽ ở giai đoạn sau. Trong hướng đi mới này, nhiều truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn… như là khúc dạo đầu cho truyện ngắn nói riêng và cũng là cho cả một giai đoạn văn học mới. Tiếp sau họ xuất hiện một lớp nhà văn trẻ như Lê Minh Khuê, Phạm Thị Minh Thư, Hồ Anh Thái… Họ sẽ là lực lượng chính đưa văn xuôi Việt Nam đổi mới sau 1986 chính thức lên đường. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 112 Tất cả những dấu hiệu đổi mới trong các truyện ngắn mà luận văn khảo sát có thể xem như là những mũi khoan thử nghiệm của một hướng tìm tòi, đổi mới ban đầu của thể loại nằm trong quy luật vận động, phát triển không ngừng của nền văn học Việt Nam hiện đại trong sự giao lưu và tiếp xúc với văn học thế giới. Các sáng tác ấy chưa hẳn đã đạt đến chiều sâu của nhận thức cũng như sự kết tinh về nghệ thuật nhưng bước đầu có tác động khá mạnh mẽ đến tư duy sáng tạo của các nhà văn cũng như tâm lí tiếp nhận của bạn đọc. 2. Một trong những phương diện có nhiều dấu hiệu đổi mới trong văn xuôi nói chung, truyện ngắn nói riêng ở giai đoạn sau chiến tranh là phương diện đề tài. Đề tài chiến tranh tiếp tục là mảnh đất giàu tiềm năng cho các cây bút khai vỡ. Tuy nhiên khi đi vào đề tài này thấy sự trăn trở, tìm tòi những cách tiếp cận mới. Phần lớn các sáng tác về đề tài này chỉ lấy bối cảnh chiến tranh làm cái nền để bộc lộ những phẩm chất anh dũng, nhân văn của con người. Các tác giả đã cố gắng tạo ra sự hài hòa khi thể hiện sự khốc liệt của cuộc chiến tranh với tinh thần nhân bản của con người và tinh thần chiến đấu của dân tộc. Mặt khác, sự chú ý của các cây bút nghiêng về khai thác những hậu quả của chiến tranh, những sự lầm lạc phản bội, những cái giá phải trả cho chiến thắng. ở đó, con người cá nhân được thể hiện một cách sinh động, toàn vẹn, sâu sắc. Nhờ vậy, nhiều truyện ngắn giai đoạn này đã bộc lộ những vấn đề có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, góp phần làm cân bằng trở lại cách nhìn nhận con người trong văn xuôi thời kì chiến tranh. Cùng với đề tài chiến tranh là sự xuất hiện của đề tài thế sự, đời tư. Từ sau năm 1980 trở đi đây là đề tài giữ vai trò trung tâm của nền văn học. Truyện ngắn sau chiến tranh đã tạo được những hiệu quả cao khi đi vào một cảnh đời, một tâm trạng trong những tình huống tiêu biểu của cuộc sống thường nhật. Với ý thức nhạy bén và sự gắn bó với cuộc sống, các nhà văn đã xới lên những vấn đề của cuộc sống đương đại để vừa rung một hồi chuông cảnh tỉnh vừa khẳng định niềm tin vào con người. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 113 Trong giai đoạn chiến tranh, nền văn học gắn với cảm húng sử thi, với âm điệu ngợi ca và niềm lạc quan cách mạng. Sau khi chiến tranh kết thúc thấy rõ sự chuyển dịch từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự đời tư. Trong những truyện ngắn giai đoạn 1975-1985 không chỉ có một giọng là ngợi ca mà là sự đan cài của nhiều nguồn cảm hứng cảm hứng đạo đức, cảm hứng bi kịch, cảm hứng phê phán… Nhưng tất cả đều mang cảm hứng nhân văn về số phận con người cá nhân. 3. Nhìn chung, truyện ngắn giai đoạn 1975- 1985 ngày càng xa đần lối kể lể dài dòng với những biến cố dữ dội mà ngắn gọn hơn, cô đúc hơn trong phương thức biểu hiện. Vai trò của cốt truyện chặt chẽ gay cấn có xu hướng nhường chỗ cho những cốt truyện tâm lí. Truyện ngắn có sức khái quát cao hơn vì đi vào chiều sâu thế giới bên trong tâm hồn con người để bộc lộ quá trình tự nhận thức. Đó là biểu hiện cho sự nhận thức về con người đã đạt đến một tư duy mới, gần với bản chất con người hơn. Đó cũng là kết quả của sự phối hợp của nhiều điểm nhìn trần thuật. Điểm nhìn người dẫn truyện, điểm nhìn của các nhân vật thường đan cài vào nhau làm nổi bật những chân dung, tính cách, số phận nhân vật trong chiều sâu triết lí. Cũng chính vì thế kiểu nhân vật tự nhận thức, nhân vật tính cách, số phận được nhiều nhà văn chú ý lựa chọn. Truyện ngắn cũng đang mở ra những con đường giao tiếp cởi mở hơn với độc giả. Nhà văn không phải là người độc tôn chân lí phán truyền mà tăng cường yếu tố đối thoại với người đọc. Điều đó có thể nhận thấy qua những cách kết thúc mở, những sự phức hợp của giọng điệu. Mười năm truyện ngắn 1975- 1985 là thời gian chuẩn bị tích cực cho sự định hình những nét mới, góp phần quan trọng làm nên một dòng chảy liền mạch cho văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 114 Tài liệu tham khảo 1. Tạ Duy Anh 2002, Nghệ thuật viết truyện ngắn và kí, Nxb Thanh niên, Hà Nội. 2. Nguyễn Thị Vân Anh 1985, Hoa xương rồng Tập truyện ngắn, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội. 3. Vũ Tuấn Anh 1995, “Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Tạp chí Văn học, 4, trang 14-19. 4. Vũ Tuấn Anh 2001, Văn học Việt Nam hiện đại- Nhận thức và thẩm định, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 5. Lại Nguyên Ân 1984, Văn học và phê bình, Nxb Tác phẩm mới. Hà Nội. 6. Lại Nguyên Ân 1986, “Thử nhìn lại văn xuôi 10 năm qua”, Tạp chí Văn học, 1. 7. Nguyễn Thị Bình 1996, Những đổi mới văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975 - Khảo sát trên nét lớn, Luận án Phó tiến sĩ khoa học Ngữ văn. Đại học Sư phạm I, Hà Nội. 8. Bốn mươi lăm truyện ngắn 1975-1985 1985, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội. 9. Nguyễn Minh Châu 1983, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành Tập tuyện ngắn, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội. 10. Nguyễn Minh Châu 1985, Bến quê Tập truyện ngắn, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội. 11. Nguyễn Minh Châu 2006, Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Văn học, Hà Nội. 12. Có một đêm như thế 1981 Tập truyện ngắn được giải thưởng tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1981, Nxb Văn nghệ quân đội, Hà Nội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 115 13. Cơ sở lí luận văn học 1985, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 2. 14. Trần Cương 1986, “Về một vài hướng tiếp cận với đề tài chiến tranh”, Tạp chí Văn học, 3. 15. Phan Cự Đệ 1986, “Mấy vấn đề lí luận của văn học hiện nay”, Tạp chí văn học, 5. 16. Phan Cự Đệ Chủ biên 2005, Văn học Việt Nam thế kỉ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 17. Phan Cự Đệ Chủ biên 2005, Truyện ngắn Việt Nam - Lịch sử - Thi pháp - Chân dung, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 18. Trần Thanh Địch 1985, Tìm hiểu truyện ngắn, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội. 19. Trung Trung Đỉnh 1986, Đêm nguyệt thực Tập truyện ngắn, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội. 20. Hà Minh Đức Chủ biên 2000, Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội. Tái bản lần thứ 6 21. Nguyễn Hải Hà, Nguyễn Thị Bình 1995, Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi từ sau cách mạng tháng tám đến nay, Hà Nội. 22. Bùi Hiển 1981, Nằm vạ Tập truyện ngắn, Nxb văn học, Hà Nội. 23. Bùi Hiển 1985, Tâm tưởng Tập truyện ngắn, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội. 24. Dương Thu Hương 1981, Những bông bần li Tập truyện ngắn, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội. 25. Lê Thị Hường 1995, Những đặc điểm cơ bản của truyện ngắn Việt nam giai đoạn 1975 -1995, Luận án Phó tiến sĩ khoa học Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 116 26. Nguyễn Văn Kha 2006, Đổi mới quan niệm về con người trong truyện Việt nam 1975- 2000, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh. 27. Nguyễn Khải1982, Gặp gỡ cuối năm, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội. 28. Phùng Ngọc Kiếm 2002, Con người trong truyện ngắn Việt Nam 1945- 1975, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 29. Nguyễn Kiên 1986, Đáy nước Tập truyện, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội. 30. Duy Khán 1985, Tuổi thơ im lặng Tập truyện, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội. 31. Ma Văn kháng 1986, Ngày đẹp trời Tập truyện,Nxb Lao động, Hà Nội. 32. Ma Văn Kháng1985, Mùa lá rụng trong vườn, Nxb Phụ nữ, Hà Nội. 33. Lê Minh Khuê 1981, Đoạn kết Tập truyện, Nxb Phụ nữ, Hà Nội. 34. Lê Minh Khuê 1986, Một chiều xa thành phố Tập truyện, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội. 35. Tôn Phương Lan 2002, Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Tái bản lần thứ nhất 36. Tôn Phương Lan 2005, Văn chương và cảm nhận, Nxb Khoa h?c xã h?i, Hà Nội. 37. Phong Lê 1994, Văn học và công cuộc đổi mới Tiểu luận và phê bình, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội. 38. Phong Lê 1983, “Văn học những năm 80”, Tạp chí Văn học, 3. 39. Nguyễn Văn Long 2003, Văn học Việt Nam trong thời đại mới, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 40. Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn Đồng chủ biên 2006. Văn học Việt Nam sau 1975- Những vấn đề nghiên cứu và giảng dậy. Nxb Giáo dục, Hà Nội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 117 41. Thái Bá Lợi 1982, Vùng chân hòn tàu Tập truyện, Nxb văn học, Hà Nội. 42. Mấy vấn đề văn hoá và phát triển ở Việt nam hiện nay, Bộ Văn hoá thông tin- Thể thao, Hà Nội. 43. Một thời đại văn học mới Tiểu luận 1987, Nxb Văn học, Hà Nội. 44. Mười bốn truyện ngắn Nguyễn Khải, Phạm Hoa, Nhật Tuấn 1982, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội. 45. Mười bảy truyện ngắn thành phố Hồ Chí Minh 1982, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội. 46. Năm mươi năm văn học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám 1996, Nxb Đại học quốc gia ,Hà Nội. 47. Bảo Ninh 1987, Trại bảy chú lùn Tập truyện, Nxb Hà Nội. 48. Vương Trí Nhàn 1980, Sổ tay truyện ngắn, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội. 49. Trần Thị Mai Nhi 1994, Văn học hiện đại - Văn học Việt Nam - giao lưu gặp gỡ, Nxb Văn học, Hà Nội. 50. Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki 1998, Nxb Giáo dục, Hà Nội.Tái bản lần 1 51. Nguyên Ngọc, “Văn xuôi sau năm 1975. Thử thăm dò đôi nét về quy luật phát triển”, Tạp chí Văn học, 4. 52. Phạm Xuân Nguyên 1994, “Truyện ngắn và cuộc sống hôm nay”, Tạp chí Văn học, 2, trang 26-31. 53. Huỳnh Như Phương 1991, “Văn xuôi những năm 80 và vấn đề dân chủ hóa nền văn học”, Tạp chí Văn học, 4, trang 14-17. 54. Nguyễn Phương Tân, Nguyễn Thị Hạnh tuyển chọn 2002, Truyện ngắn xuất sắc về chiến tranh, Nxb hội nhà văn, Hà Nội. 55. Bùi Việt Thắng 1999, Bình luận truyện ngắn, Nxb Văn học, Hà Nội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 118 56. Bùi Việt Thắng, Truyện ngắn - Những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội. 57. Nguyễn Quang Thân 1994, 15 truyện ngắn, Nxb Văn học, Hà Nội . 58. Thời gian Tập truyện ngắn được giải thưởng tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1983 - 1984 1985, Nxb Tổng cục chính trị, Hà Nội. 59. Thời gian và trang sách Phê bình tiểu luận 1987, Nxb Văn học, Hà Nội. 60. Xuân Thiều 1985, Gió từ miền cát tập truyện, Nxb tác phẩm mới, Hà Nội. 61. Tinh tuyển Văn học Việt Nam Giai đoạn 1945-2000 2004, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 8. 62. Bích Thu 1995, “Những dấu hiệu đổi mới của văn xuôi từ sau năm 1975 qua hệ thống môtip chủ đề”, Tạp chí Văn học, 4. 63. Bích Thu 1996, “Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975”, Tạp chí Văn học, 9, trang 32-36. 64. Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu - Tác phẩm và lời bình 2007, Nxb Văn học, Hà Nội. 65. Truyện ngắn Việt nam 1945-1985 1985, Nxb Văn học, Hà Nội. 66. Truyện ngắn hay Việt Nam thời kì đổi mới 2000, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội. 67. Truyện ngắn Việt nam thế kỷ XX 2002, Nxb Kim đồng, Hà Nội, 3. 68. Trang giấy trước đèn Phê bình - tiểu luận của Nguyễn Minh Châu 1994, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội. 69. Nguyễn Mạnh Tuấn 1985, Hành khúc ngày và đêm Tập truyện ngắn, Nxb Lao động, Hà Nội. 70. Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải thưởng Hội nhà văn 1951- 1997. Nxb Hội nhà văn. Hà Nội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 119 71. Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam chọn lọc Thế kỷ 19-20 1996, Nxb Văn học, Hà nội. 72. Lê Ngọc Trà. “Vấn đề con người trong văn học” in trong Lí luận văn học, 1990, Nxb Trẻ Tp. Hồ Chí Minh. 73. Lê Ngọc Trà. “Vấn đề văn học phản ánh hiện thực” in trong Lí luận văn học, Nxb Trẻ Tp. Hồ Chí Minh. 74. Võ Văn Trực 1993, Chuyện làng ngày ấy, Nxb Lao động, Hà Nội. 75. Từ điển thuật ngữ văn học 1992, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 76. Trần Đình Sử 1986, “Mấy ghi nhận về sự đổi mới tư duy và hình tượng con người trong văn học ta thập kỷ qua”, Tạp chí Văn học, 6. 77. Trần Đình Sử 1991, “Khái niệm quan niệm nghệ thuật trong nghiên cứu văn học Xô Viết”, Tạp chí Văn học, 1. 78. Trần Đình Sử 1999, Dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 79. Trần Đình Sử. “Khái niệm quan niệm nghệ thuật trong văn học Xô Viết” 1991, Tạp chí Văn học , 1. 80. Văn học Việt Nam 1975-1985-Tác phẩm và dư luận 1997, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội. 81. Việt Nam nửa thế kỷ văn học Kỷ yếu hội thảo 26/9/1995 1997, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội. 82. Văn học trong giai đoạn cách mạng mới 1984, Nxb Tác phẩm mới - Hội nhà văn, Hà Nội. Các file đính kèm theo tài liệu này Xin quý vị click vào hình để đọc.

truyện ngắn sau 1975